Help - Search - Members - Calendar
Full Version: Vietnamese Political, Economic, and Social Super-thread
Asia Finest Discussion Forum > Asian Culture > Vietnamese Chat
Pages: 1, 2, 3, 4
DanTriVN
I will post all news articles and analysis dealing with Vietnam in this thread both in Vietnamese and English. I'll try to post articles from different news sources to give a variety of perspectives on the current issues facing Vietnam.
DanTriVN
South China Morning Post
August 24, 2010 Tuesday

Neighbourly strife

Greg Torode

The unfolding diplomatic battle between China and the US over the region is, at this point, producing more heat than light. The running rhetorical skirmishes see mainland commentators rail against US military exercises off its coasts and attempts to divide and rule China's neighbours; in Washington, meanwhile, a variety of analysts warn ever more vigorously against Chinese assertiveness.

One thinly veiled attack on Washington in a recent Xinhua commentary captured the mood, warning of a certain superpower that "stirred up tensions, disputes and even conflicts, then set foot in to pose as a 'mediator' or a 'judge' in a bid to maximise their own interests".

The smoke and thunder may make for some lively reading but it risks obscuring one vital point for Beijing - what if Washington's re-engagement across East Asia is not the problem, but merely a symptom of mounting difficulties for China in a wary region?

Mainland commentators and mainstream People's Liberation Army generals constantly cast their challenges in a Sino-US context. If smaller neighbours are mentioned at all, such as the recent warning to Vietnam that it would "regret" its evolving military relationship with Washington, it lies within this "Clash of the Titans" framework.

Yet, for the sake of argument, remove the US from the equation and China still has problems in East Asia. A decade or so ago, it may have been a different story as the region was awash with goodwill towards an emerging China eager to engage. This was a Beijing suddenly keen to take the unprecedented step of chipping in to the bailout of Thailand, led by the International Monetary Fund; a China emerging from its shell to promote cultural and sporting exchanges.

Lately, though, any soft power has taken on a decidedly harder edge. Countries large and small across East Asia have felt the iron fist in the velvet glove, far beyond Beijing's high-profile assertiveness in the disputed South China Sea.

Most recently, we have seen South Korean anger at China's inadequate response to dealing with the fatal sinking of one of its warships by North Korea. Then there has been an Australian public appalled at perceived cultural bullying over the screening of a pro-Uygur film at the Melbourne film festival.

The Olympic torch relay two years ago was a potential goodwill opportunity squandered. South Korea, Indonesia and Vietnam all agreed to participate. Yet as the event grew closer, all felt immense pressure to guarantee success at all costs. Bussed-in mainland students eventually fought on the streets of Seoul with the protesters. Vietnam was warned to ensure its dissidents staged no protest.

Even Thailand, China's closest ally in Southeast Asia, has expressed concerns about China's dams on the Mekong.

Against this backdrop of suspicion and concern, it is no surprise that Washington has moved to reassert its strategic primacy in the region; it is surprising only that it has taken so long to grasp the opportunity presented by Beijing's overreach.

Washington has not moved in isolation, or unprompted. Its envoys have been listening long and hard to a chorus of East Asian concern. As a result, the United States is now formally involved in the Association of Southeast Asian Nations, and the once-weak body is starting to dominate East Asian summitry.

Amid the fierce rhetoric, there is little visible sign that Beijing's strategists are eyeing fresh approaches to their neighbourhood, but they certainly should be.

For all the difficulties, there remains plenty of residual goodwill to build on. The recent Sino-Asean free-trade agreement - the biggest anywhere in terms of population - and a US$10 billion joint investment co-operation fund are already starting to bear fruit.

Talking to envoys from a variety of nations, it is clear no one is in any mood to contain China. All, even the most historically suspicious, want improved ties. They just don't want to be bullied, much less dominated.

Greg Torode is the Post's chief Asia correspondent

DanTriVN
Nguy cơ ǵ từ nhà máy điện hạt nhân Pḥng Thành?
9:30 AM, 24/08/2010


Điều quan trọng nhất không phải là nhà máy điện hạt nhân Pḥng Thành (Trung Quốc) cách Việt Nam 60km... dù cách 500 - 600km th́ cũng là gần Việt Nam, và càng gần Hongkong cùng các khu dân cư khác của Trung Quốc. Quan trọng là công nghệ có an toàn không?

Trong bài "Sự phục hưng điện hạt nhân", TSKH Vơ Văn Thuận, nguyên Viện trưởng Viện KH - KT hạt nhân nêu ư kiến, bên cạnh những nhược điểm vốn có của công nghệ điện hạt nhân mà nhân loại đang từng bước khắc phục. Từ sau vụ Chernobyl, nhiều nước đang chuẩn bị và hướng tới chương tŕnh điện hạt nhân, mở ra thời kỳ gọi là “phục sinh” điện hạt nhân.

Tiếp theo bài trên, TSKH Vơ Văn Thuận phân tích về Dự án điện hạt nhân của Trung Quốc tại Pḥng Thành cách Quảng Ninh 60km... Bài viết phản ảnh quan điểm riêng của tác giả.

Không chỉ có Việt Nam quan tâm điện hạt nhân, mà các nước trong ASEAN như Thái Lan, Indonesia cũng tích cực bàn về dự án nhà máy điện hạt nhân ngay trong thập niên này. Philipines từng phải từ bỏ dự án điện hạt nhân đầu tiên do vấn đề chính trị, c̣n Malaysia trước đây khẳng định sẽ không xây điện hạt nhân, th́ nay đang cân nhắc lại.

Đột phá tư duy phát triển điện hạt nhân

Trung Quốc rất quyết tâm và có chủ đích rơ ràng khi họ khởi động cách đây 5 năm chương tŕnh điện hạt nhân lớn với dự tính xây 40 ḷ công suất cao trong ṿng 15 năm. Trong 2 năm qua, chương tŕnh này tiếp tục được củng cố và tăng cường. Theo đó, đến năm 2020, họ thực hiện 60 ḷ mới, thay v́ 40 ḷ; đến năm 2030, tăng công suất điện hạt nhân lên ít nhất 7 lần so với hiện nay.

Như vậy, đất nước đông dân nhất hành tinh đang quyết tâm lấy điện hạt nhân thay thế dần điện than gây ô nhiễm. Những nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc được xây dựng ven biển, có cái cách thành phố lớn nhất nước này là Thượng Hải 100km, vài cái đă vận hành hàng chục năm nay ở Quảng Đông, gần sát Hongkong và cách Việt Nam trên dưới 500km. Các nhà máy này lúc đầu chủ yếu nhập công nghệ từ Pháp, Canada, Nga và gần đây là chú trọng vào công nghệ Mỹ. Những công nghệ nhập cũng nhanh chóng được nghiên cứu nội địa hóa toàn diện. Hiện nay Trung Quốc bắt đầu triển khai ḷ chuẩn chế tạo nội địa CPR1000.

Nhà máy hạt nhân Trung Quốc dự định xây dựng tại Pḥng Thành, Quảng Tây nằm trong chuỗi phát triển của chương tŕnh điện hạt nhân như nói ở trên và không gây ngạc nhiên cho những ai đă nghe các thuyết tŕnh của các chuyên gia hạt nhân Trung Quốc trong mấy năm gần đây.

Dư luận mấy tuần qua rộ lên ở Việt Nam khi tờ Nhân dân nhật báo của Trung Quốc đăng tin nước này bắt đầu khởi công dự án Pḥng Thành, nhưng thật ra dự án này khởi động từ mấy năm trước, Hội đồng Xây dựng và cải tổ quốc gia Trung Quốc khi công bố chương tŕnh điện hạt nhân đă có ghi nhận dự án này trong danh mục (theo WNA 2009). Đó là dự án gần biên giới Việt Nam nhất, và v́ thế được dư luận quan tâm đặc biệt hơn.

Sau 20 năm nghiên cứu, thảo luận khá thận trọng và đầy cân nhắc, Việt Nam chính thức khởi động chương tŕnh điện hạt nhân bằng nghị quyết của Quốc hội ngày 25/11/2009 cho phép tiến hành xây dựng nhà máy đầu tiên ở Ninh Thuận. Lúc đầu dự án tiền khả thi đưa ra 2 địa điểm, tức là 2 nhà máy, mỗi nhà máy có 2 tổ máy 1000 MWe. Nhưng đến nay, những nghiên cứu quy hoạch cập nhật đă đưa ra phương án với 4 tổ máy ở mỗi địa điểm, tức là công suất tăng gấp đôi. Điều này là phù hợp với khả năng mặt bằng xây dựng và tính hiệu quả kinh tế khi đầu tư cơ sở hạ tầng tập trung.

Tiếp theo, một chương tŕnh dài hạn đến năm 2030 dự tính có đến 8 địa điểm, tức là 8 nhà máy ở khu vực miền Trung với tổng cộng khoảng 14 tổ máy 1.000 - 1.400 Mwe/mỗi ḷ phản ứng. Như vậy, có thể nói tốc độ tư duy phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam có những đột phá đáng kể. Nó có phù hợp với năng lực quản lư và đầu tư sau năm 2020 hay không th́ c̣n nhiều tranh luận, nhưng nó mang tính mục tiêu đáp ứng cho phát triển nền kinh tế quốc dân trong giai đoạn từ nay đến 2030 là khá rơ nét.

Nguy cơ ǵ từ nhà máy điện hạt nhân Pḥng Thành?

Dự án điện hạt nhân của Trung Quốc tại Pḥng Thành cách Quảng Ninh 60km có những mặt tiêu cực nào đối với chúng ta không? Theo tôi, khi Trung Quốc công bố một chương tŕnh điện hạt nhân lớn và dài hạn như trên, dự án Pḥng Thành cũng chỉ là một thành tố phát triển cập nhật của chương tŕnh năng lượng của họ.

Như một số nhà chuyên môn của Việt Nam khẳng định, khoảng cách 60km là ngoài ṿng hạn chế theo quy định an toàn của IAEA và thông lệ quốc tế. Điều mà dư luận quan tâm hơn là 2 bên cần có sự trao đổi, thông tin kịp thời, đầy đủ trước khi tiến hành xây dựng và lâu dài trong quá tŕnh vận hành. Điều này được thúc đẩy bởi những quy định quốc tế trong các công ước mà 2 nước đă tham gia, như thông báo nhanh trong t́nh trạng phóng xạ khẩn cấp, hợp tác giúp đỡ trong t́nh huống sự cố hạt nhân. Nếu bên nào chưa làm đầy đủ các việc trên th́ nhanh chóng tăng cường, bổ sung trên tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.

T́nh huống sự cố kỹ thuật luôn luôn tiềm ẩn trong quá tŕnh vận hành bất cứ công nghệ nào. Tuy nhiên có thể khẳng định tai nạn cấp độ cao gây thảm họa môi trường như vụ Chernobyl đă được loại trừ đối với những ḷ phản ứng hiện nay.

Về lư thuyết, xác suất xảy ra sự cố điện hạt nhân thấp dưới mức chúng ta biết so với những nguy cơ thảm họa khác, kiểu như vỡ đập thủy điện. Không có ǵ là tuyệt đối xét về an toàn, nhưng cuộc sống thực tế đ̣i hỏi sự cân đong mặt được và mất, mặt phải và trái, để chúng ta có nên hay không nên sử dụng một loại công nghệ này hay công nghệ khác.

Cái sai lầm nhất là khi ta tuyệt đối hóa, cường điệu mặt này hay vấn đề này, trong khi coi nhẹ mặt khác, vấn đề khác, khiến cho quá tŕnh phản biện đánh giá bị nhuốm màu chủ quan, phiến diện. Nó sẽ dẫn đến sai lầm bằng sự nghiêm trọng hóa thái quá, hoặc ngược lại, chủ quan coi thường ư kiến phê phán của dư luận.

Trong trường hợp nhà máy điện hạt nhân Pḥng Thành của Trung Quốc, điều quan trọng nhất không phải là nó cách Việt Nam 60km, mà quan trọng hơn là công nghệ đó có đạt chất lượng không, có đáp ứng tiêu chuẩn an toàn quốc tế không?

Nếu phía Trung Quốc đảm bảo được như vậy, chúng ta nên hoan nghênh và ủng hộ bạn. Bởi v́ chương tŕnh điện hạt nhân của Trung Quốc có thể giúp giảm thiểu được khí nhà kính do điện than phát thải, mà lượng khí này cũng đă và đang lan tỏa làm “đỏ” đậm hơn bản đồ của cả các nước xung quanh Trung Quốc, trong đó có Việt Nam. Đó là một hiện thực mà chúng ta dường như lại ít trao đổi, thảo luận.

Quăng đường 60km là gần, nhưng cũng là khái niệm tương đối. Nếu mọi sự an toàn, hợp quy chuẩn th́ 60km có thể chấp nhận được. Nhưng nếu giả thiết công nghệ kém an toàn, kém chất lượng, th́ ngay khoảng cách vài ngàn km từ Chernobyl đến Trung Âu và Bắc Âu cũng không đủ xa để trách khỏi ô nhiễm.

Như thế th́ những nhà máy điện hạt nhân khác của Trung Quốc đă vận hành 5 - 7 năm nay như ở vịnh Đại Á, Quảng Đông, dù cách 500 - 600km th́ cũng là gần Việt Nam, và càng gần Hongkong và các khu dân cư khác của Trung Quốc.

Tóm lại, chúng ta nên đặt vấn đề toàn diện hơn, dài hạn hơn khi xem xét những t́nh huống tương tự. Cần có những thông tin đầy đủ hơn, khách quan và khoa học để đừng suy luận cảm tính, nhất thời đưa ra những giả thiết thiếu tính thực tế, nhưng lại gây ra các thái cực sai lầm cho dư luận xă hội, cụ thể là quá hoảng sợ, hoặc ngược lại, quá chủ quan.

Dù thế nào tôi cũng mong chúng ta thấy rơ xu hướng phát triển điện hạt nhân là cần thiết, không chỉ đối với Trung Quốc mà với cả Việt Nam và nhiều nước châu Á và Đông Nam Á. Ít nhất nguồn phát điện hạt nhân sẽ đóng vai tṛ rất quan trọng cho kinh tế quốc dân trong ṿng 50 năm tới.

Nếu Việt Nam, Trung Quốc và các nước trong khu vực có tinh thần trách nhiệm cao không chỉ với dân tộc ḿnh, mà với cả cộng đồng khu vực và quốc tế, th́ chắc chắn chúng ta có thể hợp tác, giúp nhau vượt qua nhiều thử thách, khó khăn trên con đường chinh phục năng lượng hạt nhân v́ mục đích ḥa b́nh. Điều này không phải là không thực hiện được.

Tháng 8 năm 2010
DanTriVN
China's Water Grab
Forget the South China Sea. If America really cares about strengthening its presence in Asia, it'll focus on the Mekong River instead.
BY JOHN LEE | AUGUST 24, 2010

In recent weeks, the United States has taken some assertive steps in the South China Sea -- and Beijing is watching anxiously. Secretary of State Hillary Clinton made an explicit move away from the administration's usually conciliatory tone when she declared in late July that it would be in America's "national interest" to help mediate the disputes among China and several other Asian countries over islands and maritime rights in the sea. Then, on July 22, Defense Secretary Robert Gates announced that the United States would resume ties with Indonesian special forces after a 12-year hiatus, with the aim of eventually restoring full military-to-military relations. He also confirmed other collaboration with China's maritime rivals, including a series of multilateral military training exercises in Cambodia, joint U.S.-Vietnam naval exercises, and serious discussions with Hanoi on sharing nuclear fuel.

It's clear that the United States is truly "back in Asia," as Clinton promised in January. But another, subtler regional push, one that's flown under the radar in Washington, has an even greater capacity to upset Beijing: America's interference in the Mekong River region. Clinton recently met with the foreign ministers of Cambodia, Laos, Thailand, and Vietnam and pledged $187 million to support the Lower Mekong Initiative, which has the stated aim of improving education, health, infrastructure, and the environment in the region. It doesn't have the same firepower as military training exercises -- but privately, several Chinese Ministry of National Defense officials have told me that they believe this new, softer approach in the Mekong has the potential to achieve something that all the naval partnerships in the world cannot.

The 2,700-mile-long Mekong River begins on the Tibetan plateau and runs from Yunnan province in China through Burma, Laos, Thailand, Cambodia, and Vietnam. China has built three hydroelectric dams on its stretch of the Mekong (called Lancang in China) and will complete a fourth dam in 2012. At the moment, water levels of the lower Mekong are at record lows, threatening the livelihood of an estimated 70 million people in the countries south of China, where subsistence agriculture supports a large majority of the population. These countries blame Beijing for damming up water to benefit Chinese citizens while people downstream are starving.

There is no conclusive proof that the Chinese dams and water policies are responsible for the low water levels downstream, but Beijing's refusal to allow extensive inspection of its activities in the Lancang -- as well as its disdainful attitude toward the smaller complainants -- hasn't reassured the smaller countries that they're being treated fairly. They fear a future in which their access to water will be controlled by China's Ministry of Water Resources.

Beijing can be disdainful and bullying toward smaller countries when it comes to its own interests, as observers of Mekong River politics will confirm. But China's approach in much of Asia is basically a hearts-and-minds one. It is a major distributor of cheap, no-strings-attached loans to other Asian governments, especially to those countries, such as the Philippines and Thailand, that are occasionally drifting away from Washington's embrace. Its diplomats are the most numerous and hardworking in all of Asia, spreading a form of regionalist "Asian values" that is specifically designed to exclude American influence. Political officials and strategists in Beijing increasingly talk about a bottom-up approach to regional supremacy, using economic and cultural arguments to persuade Asian elites that Chinese leadership is the sure and benign path to regional prosperity in the future -- not American partnership.

Because of this, Washington's willingness to get involved in the Mekong River dispute could create an almost perfect counterweight to China's strategy among the tens of millions of people dependent on the river for sustenance. Political elites in almost every Asian country (exceptions include North Korea and Burma) are predisposed to prefer American power over China. However, these days people are increasingly wondering what's in it for them. While there have been over 40 bilateral and multilateral free trade agreements signed between Asian states, including a China-ASEAN pact that was activated this year, America has concluded and ratified only one, with Singapore. This is why America's ability to keep Beijing in check over the Mekong River could remind millions of ordinary Asians that U.S. primacy in the region still matters, that American diplomatic clout and military presence has maintained the peace in Asia and kept vital sea lanes safe and open for commerce for decades.

Former U.S. Deputy Secretary of State Richard Armitage often counseled that "getting China right means getting Asia right." Strengthening alliances with countries such as Japan, South Korea, and Australia is still the most important part of this strategy. Establishing new security partnerships with countries such as India, Vietnam, and Indonesia is also critical. But economic development and future prosperity is the region's top priority. For the tens of millions of Asians in these countries that depend on the Mekong River for their survival and livelihood, nothing matters more than a policy that addresses water rights.

It is still too early to say whether Barack Obama's administration will pursue wholeheartedly its newfound interests in the Mekong. But lending America's weight to local "bread and butter" issues is a clever way for Washington to win millions of new friends in the region -- and keep one very eager competitor at bay.

http://www.foreignpolicy.com/articles/2010...r_grab?page=0,1

DanTriVN
Vietnam’s Hot, Dark Summer
August 05, 2010

As demand outstrips supply in a brutally hot Vietnam summer, anger grows with the government power company over blackouts.

A neighbourhood of tall, thin concrete houses—most still unpainted—is illuminated by the main road and house lights that circle the western border of the power cut. Blue torch lights flicker through the bars of one rooftop balcony as a family fumbles around looking for bedding. It’s too hot to sleep inside without a fan, in one of the many unannounced power cuts across the capital this summer.

‘It’s much worse than last year. The weather this year is very hot,’ says Le Anh Tuan, from inside his cupboard-sized photocopy and printing shop. ‘I’m angry. I need power every day for my business and power cuts hurt it.’

For Tuan, who’s also a xe om (motorbike taxi) driver, half- and day-long blackouts mean he can’t use his two photocopiers in the busy university area in Hanoi’s southern Hai Ba Trung district. He says his area gets two blackouts a week, each half a day long, and while residents are informed prior to these the other blackouts are unscheduled.

It’s been one of the hottest summers on record in Vietnam, and the unscheduled blackouts leaving fans and air conditioners dead haven’t pleased residents. Here, as in other countries, city temperatures can reach higher levels than the countryside thanks to the Urban Heat Island effect, where metropolitan cores heat up due to increased industrialization and their increasingly built-up nature—especially in the tight knit alleys of un-insulated houses.

The long-running drought has been blamed for this year’s blackouts in Hanoi. The level of water in hydro dams was ‘dangerously low’ months ago and Dr. Nguyen Lan Chau, deputy director of Vietnam’s hydrometeorology institute, suggested back in the spring that the capital would suffer worse than usual summer power cuts without heavy rains (hydropower supplies about 30 to 40 percent of Vietnam’s power).

But despite such claims, many believe that state-owned enterprise Electricity Vietnam is using the ongoing drought as an excuse to hide wider problems.

That EVN can be inefficient is no secret to many. The dangling, bunched power lines supplied by the company have even inspired a t-shirt depicting an image of the jumble, sold with the title ‘Saigon Online’ in the southern city’s tourist district. It’s not unusual to trip over a cable that has fallen from a pylon and electrocutions during floods are common. And these, along with the blackouts, are just the street level issues.

The demand for power in Vietnam is growing fast—about 15 percent each year. Eight nuclear reactors will be built between now and 2030. The technology is Russian, but there has been little foreign investment in the electricity sector in Vietnam (although US power company AES has agreed to invest in a $1.6 billion, 1,200 megawatt plant).

One of the reasons cited by experts for the problems is price regulation. Prices are kept low by the government, something which has also stymied interest in the sector by foreign investors, so freeing up the sector will necessarily mean higher prices.

Nguyen Huong Giang runs a nail salon in a street with many other small beauty parlours and salons. She says she’s also been losing business because of the power cuts, but unlike Tuan reckons fair warning is rarely given, something which EVN could in theory be fined for.

‘The price is increasing but the power cuts are continuing,’ she says, ‘the price has been increasing more and more (in recent years).’ A steep increase in price would be widely unpopular with the public, who already worry about inflation. However higher prices may be accepted as a necessary evil if the lumbering state owned enterprise shapes up.

‘I think there are limitations in management,’ says Giang, voicing an opinion many people have of their government-run enterprises.

The Chairman of EVN, Dao Van Hung, expressed frustration to local media last month, noting that low prices meant the company was unable to ensure profitability, and thus earn the foreign investment it wants.

The company has lost more than 4.7 trillion VND buying power to meet demand. Hung also pointed out that EVN shouldn’t be singled out as it only held a monopoly on distribution and purchase of power; PetroVietnam and coal company Vinacomin also produce power. Renewable sources of energy have been discussed but funding remains an issue.

That the power cuts are affecting business and are also becoming politically sensitive is obvious.

According to reports, tourists have been getting stuck in hotel elevators during unannounced blackouts and companies are spending large amounts of money to keep their generators running. People have begun cancelling tours and hotel stays.

Earlier, farmers forced government officials to sit in 40 degree sun in north central Thanh Hoa Province, urging them to explain why they had had to endure so many power outages.

The government has told state media that production increased by 17 percent this year, but it’s still not enough to cover what is needed. Government assurances that it has told Electricity of Vietnam to improve and increase its purchases of electricity have been met with much cynicism.

‘When the government is spending money to buy power from foreign countries like China we don’t know where the power is going,’ Giang says.

http://the-diplomat.com/2010/08/05/vietnam...-dark-summer/2/
DanTriVN
Vietnam advisable not to play with fire

13:59, August 17, 2010

By Li Hongmei

The relations between China and the U.S. hit another rough patch, and any unwise decision made by Vietnam would only intensify the brewing tensions. Vietnam might give the plausible explanation that it can do as it pleases within the framework of the International Law. Or it is just presenting the guesswork to China, but its action has actually betrayed its intention. When China resolves to defend the bottom line of its national interest, Vietnam can no more play deaf or mute.

Perhaps, Vietnam should have realized that caught in between the two powers, it is playing a risky game, with its own situation as precarious as a pile of eggs and potential hazards lurking on its every side. If it continues to incite the two powers to fight at close quarters, it is nobody but Vietnam itself would come to grief first.

Since July 23, when Hillary Clinton claimed in Hanoi that "the United States has national interests in the South China Sea," and soon afterwards, the US carrier George Washington and a destroyer successively sailed in the port of its former foe, and a US-Vietnamese joint maritime exercise took shape, some Vietnamese officials, experts and scholars have frequently written articles introducing the strategic position and significance of some islands that it occupies at present. Certain officials have publicly named China.

International opinion now holds the view that Vietnam is making desperate efforts to internationalize and multi-lateralize Sino-Vietnamese disputes over South China Sea territory, and wants to enlist the help of the United States to counterbalance China in the South China Sea.

If Vietnam is currently carrying out what it really intends to do, and expects to see the Chinese deciphering to the effect, it will be another thing. But if Vietnam still frets about the fallout of what it is doing now, and cares about China's accumulating displeasure over its recent actions, it should take a different path to water down its undue hostility toward China, or at least, not to play to aggravate Sino-US confrontation, as this is likely to have a substantive effect on China's future Vietnam policy.

In Ho Chin Minh's day, China and Vietnam established the brotherly rapport. Even though it is unrealistic to come back to the good old days, Vietnam should, in the minimum, constructively respond to China's consistent good- neighbor policy on its periphery.

In actuality, China has respected Vietnam over the past few years and highly regarded the feelings of the Vietnamese public; Conversely, Vietnam should also respect China and the Chinese public. Vietnam must not play a dangerous game between China and the United States, which is something of playing with fire.

However, Vietnam's actions now are very selfish and only thinking about itself without any thought for the periphery. It might well overestimate the capacity of Uncle Sam's protective umbrella.

It is advisable for Vietnam to give up the illusion that it can do what it likes in the South China Sea under the protection of US Navy. Should China and Vietnam truly come into military clashes, no aircraft carrier of any country can ensure it to remain secure.

On the other hand, China does not need to overreact and pick a war of wards with Washington over a non-issue like this. "Dragon doesn't need to snarl over the nonsense", as writes a Chinese blogger.

The best response from China instead would be to turn on its charm to win its deserved influence and prestige in South-east Asia. For the past decade, China has achieved great success in leveraging its economic influence and diplomatic clout to reassure South-east Asian countries and improve its image in the region.

To wit, neighbors are dearer than distant relatives, as goes a popular Chinese saying, and if the rapprochement newly set into motion between the used-to-be foes like Vietnam and the U.S. is really that dear.

The articles in this column represent the author's views only. They do not represent opinions of People's Daily or People's Daily Online.

http://english.peopledaily.com.cn/90002/96417/7107160.html
DanTriVN
Vinashin và bài học đầu tư dàn trải
22/08/2010 01:00:00 PM (GMT+7)

Chính v́ đầu tư dàn trải đă khiến cho hiệu quả đầu tư không cao. Nhiều dự án của Vinashin đến nay thiếu vốn, bị dở dang, không cho ra sản phẩm trong khi vốn đầu tư không thể thu hồi và các khoản nợ ngày càng lớn.

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ (Vinashin) phải tái cơ cấu lại, theo hướng chia làm 3, một phần giữ lại là Vinashin, một phần nhập về Tập đoàn Dầu khí Quốc gia và phần c̣n lại nhập về Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam.

Thời gian qua Vinashin có những đóng góp nhất định cho ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển của Việt Nam. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và đặc biệt là do đầu tư dàn trải, quản lư công nợ; các dự án c̣n hạn chế; yếu kém nên t́nh h́nh sản xuất kinh doanh, t́nh h́nh tài chính của Vinashin lâm t́nh trạng hết sức khó khăn với khoản nợ các loại lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng.

Nh́n lại quá tŕnh đầu tư phát triển của Vinashin đến nay những người quan tâm không khỏi băn khoăn về cách làm ăn của Tập đoàn này.

Đầu tư dàn trải

Đầu tư dàn trải thể hiện ngay ở việc Vinashin tham gia vào quá nhiều dự án ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau từ đóng tàu đến vận tải biển, cảng biển, sản xuất thép, xi măng, bia, dịch vụ hàng không, bảo hiểm, ngân hàng, nhập khẩu ôtô xe máy và mới đây c̣n lấn sân sang lĩnh vực nông nghiệp (một số thành viên của Vinashin c̣n đầu tư sang trồng thanh long, dứa và chăn nuôi lợn để đa dạng hóa ngành nghề).

Chính v́ đầu tư dàn trải đă khiến cho hiệu quả đầu tư không cao. Nhiều dự án đến nay thiếu vốn, bị dở dang, không cho ra sản phẩm trong khi vốn đầu tư không thể thu hồi và các khoản nợ ngày càng lớn.

Bộ Tài chính cho biết, đến hết năm 2008, Vinashin đă giải ngân xong 750 triệu USD huy động từ trái phiếu quốc tế do Chính phủ bảo lănh. Tổng số dự án sử dụng nguồn vốn này lên tới 219 nên số lượng dự án dở dang nhiều và phần lớn chưa phát huy được hiệu quả.

Tính đến 31/12/2008, số lượng dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu quốc tế đă hoàn thành và đưa vào sử dụng đồng bộ là 56 dự án, số c̣n lại là 163 dự án. Như vậy, có đến 75% số dự án chưa phát huy tác dụng.

Kết quả thanh tra giữa năm 2008 cho thấy, tại 10 DN thành viên lớn thuộc Vinashin đă có 122 dự án được duyệt với tổng mức đầu tư 54.179 tỷ đồng. Đặc biệt theo chủ trương và phê duyệt dự án th́ nhiều dự án cơ bản được hoàn thành trong năm 2007, tuy nhiên việc triển khai dự án đều chậm. Một trong các nguyên nhân quan trọng chính là do khả năng đáp ứng về vốn quá hạn chế.

Tại thời điểm thanh tra giữa năm 2008, hầu hết các doanh nghiệp đều báo cáo rất “đói” về vốn, chưa t́m được nguồn để cân đối vốn đầu tư như: Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nha Trang 891 tỷ đồng; Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Cái Lân 495 tỷ đồng; Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Bạch Đằng 2.400 tỷ đồng; Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu 3.982 tỷ đồng, Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Phà Rừng 3.749 tỷ đồng.

Nhiều dự án không hiệu quả

Nhiều dự án đầu tư của Vinashin đến nay được cho là không có hiệu quả. Đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất thép có khá nhiều dự án kiểu “đầu voi đuôi chuột”.

Trao đổi với VietNamNet, ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, nhiều năm qua, Vinashin đầu tư sang khá nhiều dự án thép, lúc xin giấy phép dự án th́ công bố “hoành tráng” nhưng triển khai th́… lại không thấy hiệu quả.

Cụ thể như, dự án nhà máy thép liên hợp sản xuất phôi thép tại Yên Bái, công suất 200.000 tấn/năm tổng vốn đầu tư gần 600 tỷ đồng. Nhà máy này tuy đă được làm lễ động thổ từ năm 2007, nhưng cho đến nay, sau 3 năm vẫn chưa đâu vào đâu.

Dự án Vinashin – Vinakansai (nhà máy thép Vinashin Cửu Long) sản xuất thép xây dựng cũng không mang lại kết quả, kể cả nhà máy cán tấm nóng 300.000 tấn/năm, dựa trên dây chuyền cũ ở Hải Pḥng cũng chỉ sản xuất mang tính chất tượng trưng, không thể sản xuất liên tục.

Đặc biệt với dự án Nhà máy cán nóng thép tấm tại Quảng Ninh, dự án này đă được Vinashin có quyết định đầu tư vào năm 2002. Thông thường, với qui mô chỉ có 350.000 tấn/năm, là nhà đầu tư chuyên nghiệp th́ chỉ cần 2 năm là hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành.Song đến nay, sau 8 năm xây dựng, nhà máy vẫn chưa có ǵ.

Đấy là chưa kể, trong năm 2006, Vinashin cũng đă kư bản ghi nhớ với Công ty thép Posco xây dựng nhà máy thép liên hợp qui mô công suất 4,5 triệu tấn/năm tại vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Ḥa. Nhưng sau đó, đến năm 2008, Vinashin tuyên bố rút khỏi dự án trên mà không nêu rơ lư do. Về sau, Posco không được Chính phủ chấp nhận xây dựng tại Khánh Ḥa nên dự án đă bị xóa bỏ.

Cũng trong năm 2008, Vinashin cùng tập đoàn Lion Group của Malaysia cũng đă hợp tác xây dựng nhà máy 8 triệu tấn/năm, tại tỉnh Ninh Thuận với số vốưn lên tơi gần 10 tỷ USD. Tháng 11/2007, hai bên đă làm lễ động thổ, song cho đến nay, dự án trên vẫn không triển khai được và UBND tỉnh Ninh Thuận đang t́m nhà đầu tư mới cho dự án này.

Nhiều dự án về Công nghiệp tàu thuỷ cũng tương tự. Khu Công nghiệp tàu thủy Lai Vu (Hải Dương), Khu Công nghiệp tàu thủy Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nhà máy đóng tàu đặc chủng và sản xuất trang thiết bị tàu thủy Nhơn Trạch (Đồng Nai); Nhà máy đóng tàu Dung Quất; Khu công nghiệp tàu thủy Soài Rạp (Tiền Giang), phần vốn góp của Vinashin trong Công ty CP Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh ( Nam Định)... đă đầu tư hàng ngàn tỷ đồng nhưng tất cả đều dở dang, thậm chí có những dự án như KCN tàu thuỷ Soài Rạp, Nam Định… mới chỉ là băi đất trống.

Nhiều ư kiến cho rằng trong lĩnh vực đóng tàu, nguyên tắc mang tính khoa học trong quản trị là phải tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho mỗi công ty trong Vinashin tham gia vào một hay một số công đoạn trong quá tŕnh tạo ra sản phẩm dịch vụ mà Tập đoàn này cung cấp cho khách hàng; hoặc mỗi công ty trong Tập đoàn phải sản xuất ra một loại sản phẩm trong một phân khúc nào đó trong thị trường quốc tế nhằm tăng tính chuyên nghiệp trong các công đoạn sản xuất và cũng sử dụng hiệu quả các thiết bị máy móc thiết bị cũng như tránh được việc đầu tư thiết bị dàn trải và trùng lặp giữa các công ty con trong Tập đoàn.

Nh́n vào cơ cấu danh mục sản phẩm và việc tổ chức sản xuất và quản trị điều hành của Vinashin hiện nay thấy các công ty trực thuộc tập đoàn này sản xuất các sản phẩm đóng tàu giống nhau... cho thấy một sự lăng phí ghê gớm các nguồn lực do bị phân tán các nguồn lực trong việc đầu tư trang thiết bị, nguồn lực tài chính và con người trong việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ.

Bên cạnh đầu tư dàn trải th́ việc mua sắm tràn lan, đầu tư tài chính mất vốn cũng diễn ra kéo dài nhiều năm ở Vinashin khiến cho Tập đoàn này mất cân đối về tài chính.

Tính đến nay, theo số liệu của Chính phủ, tổng dư nợ của tập đoàn này là hơn 80.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tổng giá trị tài sản của tập đoàn khoảng trên 90.000 tỷ đồng và số vốn điều lệ của tập đoàn là 9.000 tỷ đồng.

Nên tái cơ cấu từ mấy năm trước

Đó là ư kiến của bà Phan Thị Ḥa, Ủy viên HĐQT, Trưởng Ban kiểm soát Petrovietnam (PVN) chia sẻ với VietNamNet như vậy về chuyện tái cơ cấu Vinashin. Theo bà Hoà, 3 tập đoàn đều là của Nhà nước. Nếu không chia tách như vậy, Vinashin phá sản và sẽ mất vốn của Nhà nước tại Vinashin. Lẽ dĩ nhiên, Chính phủ không thể để chuyện đó xảy ra.

Do đó, điều chuyển dự án sang tập đoàn khác, tái cơ cấu Vinashin là để đảm bảo duy tŕ hiệu quả vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Khi khó khăn ở các Tập đoàn lớn, Chính phủ các nước nhảy vào xử lư là chuyện b́nh thường. Khi khủng hoảng th́ động thái đầu tiên là phải tái cơ cấu lại.

Đáng lẽ việc này phải do chính Vinashin tự làm từ 2-3 năm trước. Một khi anh đă mất cân đối về mặt tài chính rồi th́ phải chủ động cơ cấu lại, đó là chuyển nhượng bớt dự án đi, thu hẹp qui mô, thay đổi mức đầu tư, giăn tiến độ… Nhưng Vinashin không làm.

Trong khi, tái cơ cấu, cân đối nguồn vốn đầu tư là nguyên tắc quản trị tài chính mà Tập đoàn, doanh nghiệp nào cũng phải làm hàng năm. Giờ yếu kém quá, Chính phủ phải vào cuộc chỉ đạo th́ câu chuyện tái cơ cấu này mới thành đặc biệt, ghê gớm.

Ở câu chuyện chia tách của Vinashin, tôi cho là khủng hoảng kinh tế thế giới là một phần thôi, cái chính là lư do công tác quản trị tài chính của Tập đoàn quá kém.

http://daukhi.vietnamnet.vn/vn/tin-top/223...u-dan-trai.html
DanTriVN
Vietnam needs to be mindful of boom and bust
By The Nation
Published on August 20, 2010

While growth continues apace in Vietnam, some recent figures point to potential problems in the short to medium term

What has gone wrong with Vietnam? Since November last year, Vietnam has devalued its currency three times. The last devaluation took place on Tuesday when the State Bank of Vietnam devalued the dong by another 2.1 per cent. Yesterday the dong hit 19,490 to the US dollar, the weakest level since 1993. So far this year the dong has weakened by 5.2 per cent, running against the regional tide.

While Japan is trying to curb the yen's rise, Thailand and other countries in the region have also witnessed a sharp appreciation of their currencies. The Malaysian ringgit in particular has risen by more than 8 per cent this year, while the baht has risen by more than 5 per cent.

Apparently, Vietnam is having problems managing macro-economic stability. It is running a huge trade deficit, coupled with the threat from inflation. It is also having a hard time managing its foreign exchange policy. The July trade deficit of more than US$1 billion(Bt31.5 billion), against more than $600 million in June, has led the Vietnamese authorities to turn to weakening the dong as a means to tackle the deficit. They are now looking upon the inflationary threat as a secondary concern when compared with the trade deficit.

Vietnam is also facing surging external debt, though it is still below the safety threshold. It will have to pay about $1 billion of foreign debt including principal and interest in 2010. This debt service will rise to $2 billion until 2016, reflecting the pressure of the balance of payments outflow. As of last year, the government's debt, and debt guaranteed by the government, stood at $27.9 billion, up by 28 per cent.

While the dong devaluation may help to boost Vietnamese exports, it will make the import of raw materials, machinery and other equipment more expensive. If the currency continues its downward spiral, it might trigger a loss of confidence. This would further complicate the monetary authorities' management of the macro-economy, including the foreign exchange policy.

With a poorly developed foreign exchange system, there is a black market in Vietnam to shadow the official market. The dong weakened to 19,475 from 19,445 yesterday at money-changers in Ho Chi Minh City, according to state-owned Vietnam Post and Telecommunications. The central bank kept the reference rate at 18,932. The Vietnamese authorities now allow the dong to fluctuate by 3 per cent either side of the daily fixed rate and try to intervene to keep the dong within this narrow trading band.

At the same time, the State Bank of Vietnam has been loosening its monetary policy by pumping capital into the commercial banks to push exports and rural credit. It has asked the banks to keep the deposit rate at 10 per cent and the lending rate at 12 per cent. However, credit growth has continued to outpace deposit growth. Between January and July this year, credit growth hit 26.7 per cent year on year, while the deposit growth jumped 23.8 per cent.

The Vietnamese economy may grow at more than 7 per cent this year, but there are signs of imbalances, which might create shocks. If the export market were to slow down, and figures will likely show that it has in the second half of the year, there will be more complications for Vietnam's macro-economic stability. High credit growth is a sign of a future bubble.

Obviously, Vietnam will not want to move forward with weaker export prospects, a high foreign debt service burden, and a potential bubble in the domestic economy.

http://www.nationmultimedia.com/home/2010/...y-30136219.html
DanTriVN
10.000 đồng mua chỗ ngủ đêm ở vỉa hè Sài G̣n

Vét trong túi áo chỉ c̣n vỏn vẹn 10.000 đồng, anh Thành đưa trả chủ quán, rồi lặng lẽ kiếm góc khuất bóng đèn, ngả lưng lên chiếc ghế bố. Xung quanh anh, chừng 20 người khác đă ngáy.

12h đêm, lỡ thời gian không thể về nhà trọ, anh Thành (42 tuổi, quê Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), làm nghề phụ hồ, ra bến xe buưt Bến Thành ngả người trên ghế chờ khách để qua đêm. Ngay lập tức, bác xe ôm cạnh đó gọi: "Có giấy tờ ǵ không? Ngủ ở đây đêm công an qua 'hốt' bây giờ. Muốn ngủ đưa 15 ngh́n, tui chở tới quận 4 có chỗ ngủ trên vỉa hè giá chỉ 10 ngh́n đồng thôi". Bán tin bán nghi nhưng anh Thành cũng theo bác xe ôm lao vút trong màn đêm.

Chỗ ngủ đó nằm trên đường Hoàng Diệu (quận 4, TP HCM). Chủ của một trong 3 ngôi nhà mặt tiền đă tận dụng khoảng diện tích vỉa hè chừng 50 m2 để bán nước và bán chỗ cho khách qua đêm. Hai hàng ghế san sát được đặt song song, cách nhau bởi một cái bàn. Cạnh đó là tủ hàng bán cà phê, đồ giải khát.

Vừa thấy anh Thành bước vào, người chủ tên Cường chạy ra hỏi ngay: "Ngủ qua đêm hả anh? Ghế đó, kiếm một chỗ mà ngủ, bóp tiền, đồ đạc nhớ cất kỹ, ở đây không kiêm nhiệm vụ giữ đồ". Thấy khách gật đầu, anh chủ tiệm ra giá: "10 ngh́n, nếu uống cà phê th́ tính thêm tiền". Vét trong túi áo chỉ c̣n vỏn vẹn đủ tiền mua chỗ, anh Thành đưa trả chủ quán, rồi lặng lẽ kiếm một nơi khuất bóng đèn, gác chân lên bàn ngả lưng, tận hưởng giấc ngủ trên vỉa hè.

Bên cạnh anh, hơn 20 người khác cũng đă ngáy ̣ ̣, mặc cho phía dưới ḷng đường, cách họ chừng một mét, xe chạy ầm ầm. Lâu lâu lại có người trở ḿnh, bị đánh thức bởi những tiếng c̣i, tiếng rú ga inh ỏi của đám thanh niên "đi băo" trong đêm.

Gần 1h đêm, một đôi thanh niên chừng 25 tuổi bước vào. Cô gái tóc nhuộm vàng, mặc chiếc áo hai dây, váy ngắn cũn cỡn, miệng rít thuốc ph́ phèo, liên tục nhả khói, nói nhỏ với chàng trai: "Không có tiền th́ chấp nhận ngủ tạm chỗ vỉa hè này. Muộn tí nữa th́ có mà ra đường ngủ". Anh chàng đi cùng đồng t́nh ngồi xuống gọi một ly cà phê đen rồi ngả đầu vào người cô gái.

Một lúc sau, thêm một người đàn ông hơn 40 tuổi, tóc tai bù xù, ăn mặc luộm thuộm rón rén đi vào phía trong góc sợ đánh thức người bên cạnh. Dường như là khách quen, anh bước ngay lại một ghế trống, đưa chiếc nón chụp lên mặt để che đi ánh sáng của những chiếc đèn.

Bị người khác quấy rầy, nhưng anh vui vẻ cho biết tên là Hậu, người B́nh Định, hiện làm nghề bốc vác ở chợ Cô Giang (quận 1, TP HCM) đă được gần 5 năm nay. Cứ đến khoảng 1h, anh đi quăng đường dài hơn 3 km qua đây để mua chỗ ngủ. Ngả lưng được đến 5h đồng hồ, anh phải dậy trở lại với công việc thường ngày.

Mệt mỏi ngả đầu lên ghế, anh chia sẻ: "Một ngày quần quật thuận lợi lắm cũng chỉ được 40.000 đồng. Trừ tiền ăn, tiền sinh hoạt hàng ngày tính ra một tháng cũng chỉ kiếm được hơn 300.000 đồng gửi về cho hai đứa con năm nay lên cấp 3 đóng học phí, lấy đâu ra tiền mà thuê nhà ở Sài G̣n. Mẹ nó ở nhà cũng khổ lắm. Tui ứa nước mắt tằn tiện tiết kiệm gửi về cho mẹ con nó. Được đồng nào hay đồng ấy".

Vừa nói, mắt người đàn ông đỏ hoe kể về cái nghèo cái khổ của người miền Trung: "Tết năm mô tui cũng về quê thăm mẹ con nó. Năm ngoái về, đứa con gái năm nay lên lớp 11 đ̣i tiền nộp học phí v́ nhà trường yêu cầu trong tháng tới nếu không nộp đủ sẽ bị đuổi học. Tui chỉ biết ngoảnh mặt đi chỗ khác".

Anh cho biết thêm, trước anh hay ngủ dưới gầm cầu, có khi ngủ luôn vỉa hè Đại lộ Đông Tây, gần bến Chương Dương. Nhưng gần đây, công an hay đi kiểm tra, nên anh phải đi xa thế này để kiếm chỗ trú thân qua đêm. Tuy đây là quán nước nhưng hầu hết khách đều là dân không chốn nương thân, hầu hết đều đến sáng mới về.

Ghi nhận của VnExpress, khách vào thuê ngủ đủ các thành phần, già có trẻ có. Nhiều nhất vẫn là người lao động nghèo chạy xe ôm, anh bán rong, thợ hồ... xung quanh bến Chương Dương và chợ đầu mối B́nh Điền (quận 1, TP HCM). Với mức thu 10.000 đồng một người, tính ra, một đêm chủ quán cũng thu được từ những người thuê chỗ ngủ này từ 300.000 đến 500.000 đồng, chưa tính tiền thu được từ việc bán nước.

"Lúc mới lên đây không có tiền thuê nhà trọ nên tui cũng ngủ đường, ngủ chợ. Một lần đi theo ông bạn cùng bán vé số th́ biết chỗ ngủ này. Cũng được gần năm nay ngủ ở đây rồi, tính ra tiết kiệm được khối tiền ấy chứ", ông Ḥa, quê Cần Thơ, gần 60 tuổi, lên Sài G̣n làm nghề bán vé số cho biết.

http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/08/3BA1F59B/
DanTriVN
Vietnam’s Dong Has Worst Week Since February on Devaluation

By Bloomberg News

Aug. 20 (Bloomberg) -- Vietnam’s dong had its worst week since February, dropping to a record low, after the central bank devalued the currency for a second time this year to help reduce the trade deficit.

The dong rose today for the first time since Aug. 18, when the State Bank of Vietnam set the daily reference rate 2 percent lower at 18,932 per dollar. Government data show the trade deficit in the seven months through July almost doubled to $7.4 billion from a year earlier, while the International Monetary Fund said on June 9 the nation’s foreign-currency reserves have fallen to the equivalent of seven weeks of imports from coverage of less than two-and-a-half months in December.

“The devaluation makes sense, given that the country is still running a sizable deficit and the level of reserves is relatively low,” said Tai Hui, the head of Southeast Asian economic research at Standard Chartered Plc in Singapore. He forecasts the dong will trade near 19,500 for “at least the next several weeks.”

The dong fell 2.1 percent this week to 19,475 per dollar as of 2 p.m. in Hanoi, the biggest five-day decline since the currency was previously devalued on Feb. 11, according to data compiled by Bloomberg. The currency climbed 0.1 percent today after the central bank kept the reference rate unchanged, according to its website. The dong is allowed to trade 3 percent either side of the rate.

Bonds Steady

The currency has slumped 5.1 percent so far this year, the worst performance among 16 currencies in Asia monitored by Bloomberg. Twelve-month non-deliverable forwards rose for a second day, gaining 0.5 percent to 21,291, implying traders are betting on a further loss of 8.5 percent.

In the so-called black market, the dong traded at 19,510 at gold shops in Ho Chi Minh City, compared with 19,260 at the end of last week, according to the 1080 telephone-information service run by state-owned Vietnam Posts & Telecommunications.

Vietnam should “allow freer movement of dong,” Mark Mobius, who oversees about $34 billion as executive chairman of Templeton Asset Management Ltd.’s emerging-markets group, said yesterday. “That means allowing the market to determine where the dong rate should be. The best way is by changing the regime and allowing people to buy and sell dong on the street at the market rate.”

The central bank devalued the dong by about 3.3 percent in February and by 5 percent in November 2009.

Benchmark government bonds were steady this week, with the yield on the five-year note at 10.64 percent from 10.66 percent at the end of last week, according to a daily fixing price from banks compiled by Bloomberg.

http://www.businessweek.com/news/2010-08-2...evaluation.html
DanTriVN
Không có chức mà vẫn có quyền

Tác giả: Trần Trọng Thức
Bài đă được xuất bản.: 25/08/2010 06:00 GMT+7

Một nhà đầu tư nước ngoài sau nhiều năm lăn lộn làm ăn ở nước ta đă nhận xét:"bên cạnh một chính phủ đang điều hành đất nước bằng công cụ luật pháp, c̣n có một thành phần vô chính phủ hoạt động song hành tuy không có chức mà vẫn có quyền, nhờ có mối quan hệ gắn bó với nhiều nhân vật có thế lực". Mời đọc bài viết của nhà báo Trần Trọng Thức bàn về vấn nạn này.

Xin được bắt đầu bài viết ngắn này với hai mẩu chuyện nhỏ nhặt thường ngày. Ai đă từng có nhu cầu sửa chữa căn nhà đang ở hẳn đều thấm thía nỗi khổ về thủ tục. Có thể nói những qui định pháp luật trong lĩnh vực xây dựng nhà ở riêng lẻ hiện nay khá chặt chẽ, đặc biệt là các biện pháp chế tài, xử phạt vi phạm rất nghiêm khắc.

Điều nghịch lư, chính sự khắt khe ấy lại là mảnh đất màu mỡ cho các bộ phận liên quan có chức năng kiểm tra việc xây dựng, mà thông thường là có đến năm bảy nhóm thay nhau liên tục đi "thị sát". Thế nhưng nếu chủ nhà nắm bắt được con bài tẩy của đường dây này, cho dù có vi phạm nghiêm trọng đến đâu th́ mọi chuyện cũng sẽ chẳng có ǵ ầm ỉ và tất nhiên là phải chi ra một khoản tiền cao hơn nhiều lần tiền trà nước. Sau đó sẽ chẳng c̣n ai làm khó dễ việc sửa chữa hay xây dựng v́ đă được "bảo kê". Đó là nguyên nhân của hiện tượng bát nháo như nhà xây vượt tầng, lấn chiếm, thậm chí xây nhà không phép đang diễn ra ở nhiều nơi.

Tương tự như vậy, bạn muốn mở một quán ăn nhỏ kiếm sống qua ngày. Thôi th́ biết bao nhiêu qui định rườm rà và thủ tục nhiêu khê. Làm theo hướng dẫn của chính quyền th́ sẽ phải mất khá nhiều thời gian mới có thể hoàn thành mọi thứ giấy tờ chứng minh đủ điều kiện mở quán. Nhưng có khi chỉ cần bắt mối được với một nhân viên của Uỷ ban phường th́ đảm bảo "khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành", v́ đồng tiền có khả năng công phá mọi thủ tục.

Đó chính là chuyện thường ngày xảy ra ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, là h́nh thái thấp nhất, đơn giản nhất của hoạt động vô chính phủ, điển h́nh cho một nghịch lư đang tồn tại hiện nay là "càng khó càng... dễ".

Hoạt động nói trên được nâng cấp và tinh vi trong sự vận động, tham gia vào đời sống kinh tế ở tầm vĩ mô, khi mà những thành viên đơn lẻ kết lại với nhau thành một mạng lưới, một đường dây trong những phi vụ bắc cầu cho các dự án lớn.

Một nhà đầu tư nước ngoài sau nhiều năm lăn lộn làm ăn ở nước ta đă nhận xét rằng "bên cạnh một chính phủ đang điều hành đất nước bằng công cụ luật pháp, c̣n có một thành phần vô chính phủ hoạt động song hành tuy không có chức mà vẫn có quyền, nhờ có mối quan hệ gắn bó với nhiều nhân vật có thế lực".

Thành phần vô chính phủ là ai? Đó là các cậu ấm cô chiêu con cháu của những người có chức quyền, là thân nhân xa gần, là bè bạn chí cốt của một số quan chức đương nhiệm hay cán bộ cấp cao đă về hưu nhưng vẫn c̣n dây mơ rể má trong bộ máy điều hành nhiều ngành hoạt động.

Bạn đừng ngạc nhiên khi nh́n thấy trong bàn tiệc giữa những người mới quen, ai đó trong số này tự giới thiệu với bạn anh ta là rể, là cháu, là con nuôi của ông này cụ nọ, sẵn sàng chạy giấy phép cho các dự án đầu tư, chi phí thấp hơn các khoản tiền lót đường mà thời gian có được tờ giấy phép lại nhanh hơn.

Và bạn cũng đừng lấy làm lạ khi thấy một anh chàng vô công rổi nghề đang ngồi đấu hót với bạn bè ở quán cà phê, bất chợt rút điện thoại di động gọi trực tiếp cho một quan đầu tỉnh mà sau vài câu thăm hỏi thân t́nh là những đề nghị rất cụ thể nhờ giải quyết chuyện khúc mắc trong làm ăn ở địa phương. Đó là lúc hoạt động vô chính phủ phát huy tác dụng, "nói đâu có đấy", hiệu quả rất cao.

Thành viên của lực lượng vô chính phủ không chỉ đơn giản nhờ có mối thân quen với người có quyền lực mà trong số họ nhiều người học rộng hiểu nhiều, không những am tường t́nh h́nh làm ăn mà c̣n nhanh nhạy trong việc nắm bắt thời tiết chính trị.

Đây là một thực thể rất khó "bắt tận tay day tận mặt" cũng như chưa có tên gọi, nhưng rơ ràng đang tác động mạnh trong đời sống kinh tế xă hội của chúng ta hiện nay, do biết vận dụng qui luật "bánh ít đi bánh qui lại".

http://tuanvietnam.net/2010-08-24-khong-co...ma-van-co-quyen
asean.asia
what was the agenda behind each of those writer?

Chinese writers in China were based on China interests, and western writers were based on western interests. None of the interests was for vietnam interests. kiss.gif

Right or wrong in politics is just how each perceives it. my right may be your wrong (vice versa).

so tell me what is your right?
Potatosalad
what I find ironic in all this, more than 30 years ago they called people 'traitors' etc for siding with America. embarassedlaugh.gif now they go all sweet and friendly with the Americans for protection. well it takes years to learn a mistake I guess.
robot_devil
QUOTE (DanTriVN @ Aug 25 2010, 10:34 AM) *
China's Water Grab
Forget the South China Sea. If America really cares about strengthening its presence in Asia, it'll focus on the Mekong River instead.
BY JOHN LEE | AUGUST 24, 2010

In recent weeks, the United States has taken some assertive steps in the South China Sea -- and Beijing is watching anxiously. Secretary of State Hillary Clinton made an explicit move away from the administration's usually conciliatory tone when she declared in late July that it would be in America's "national interest" to help mediate the disputes among China and several other Asian countries over islands and maritime rights in the sea. Then, on July 22, Defense Secretary Robert Gates announced that the United States would resume ties with Indonesian special forces after a 12-year hiatus, with the aim of eventually restoring full military-to-military relations. He also confirmed other collaboration with China's maritime rivals, including a series of multilateral military training exercises in Cambodia, joint U.S.-Vietnam naval exercises, and serious discussions with Hanoi on sharing nuclear fuel.

It's clear that the United States is truly "back in Asia," as Clinton promised in January. But another, subtler regional push, one that's flown under the radar in Washington, has an even greater capacity to upset Beijing: America's interference in the Mekong River region. Clinton recently met with the foreign ministers of Cambodia, Laos, Thailand, and Vietnam and pledged $187 million to support the Lower Mekong Initiative, which has the stated aim of improving education, health, infrastructure, and the environment in the region. It doesn't have the same firepower as military training exercises -- but privately, several Chinese Ministry of National Defense officials have told me that they believe this new, softer approach in the Mekong has the potential to achieve something that all the naval partnerships in the world cannot.

The 2,700-mile-long Mekong River begins on the Tibetan plateau and runs from Yunnan province in China through Burma, Laos, Thailand, Cambodia, and Vietnam. China has built three hydroelectric dams on its stretch of the Mekong (called Lancang in China) and will complete a fourth dam in 2012. At the moment, water levels of the lower Mekong are at record lows, threatening the livelihood of an estimated 70 million people in the countries south of China, where subsistence agriculture supports a large majority of the population. These countries blame Beijing for damming up water to benefit Chinese citizens while people downstream are starving.

There is no conclusive proof that the Chinese dams and water policies are responsible for the low water levels downstream, but Beijing's refusal to allow extensive inspection of its activities in the Lancang -- as well as its disdainful attitude toward the smaller complainants -- hasn't reassured the smaller countries that they're being treated fairly. They fear a future in which their access to water will be controlled by China's Ministry of Water Resources.

Beijing can be disdainful and bullying toward smaller countries when it comes to its own interests, as observers of Mekong River politics will confirm. But China's approach in much of Asia is basically a hearts-and-minds one. It is a major distributor of cheap, no-strings-attached loans to other Asian governments, especially to those countries, such as the Philippines and Thailand, that are occasionally drifting away from Washington's embrace. Its diplomats are the most numerous and hardworking in all of Asia, spreading a form of regionalist "Asian values" that is specifically designed to exclude American influence. Political officials and strategists in Beijing increasingly talk about a bottom-up approach to regional supremacy, using economic and cultural arguments to persuade Asian elites that Chinese leadership is the sure and benign path to regional prosperity in the future -- not American partnership.

Because of this, Washington's willingness to get involved in the Mekong River dispute could create an almost perfect counterweight to China's strategy among the tens of millions of people dependent on the river for sustenance. Political elites in almost every Asian country (exceptions include North Korea and Burma) are predisposed to prefer American power over China. However, these days people are increasingly wondering what's in it for them. While there have been over 40 bilateral and multilateral free trade agreements signed between Asian states, including a China-ASEAN pact that was activated this year, America has concluded and ratified only one, with Singapore. This is why America's ability to keep Beijing in check over the Mekong River could remind millions of ordinary Asians that U.S. primacy in the region still matters, that American diplomatic clout and military presence has maintained the peace in Asia and kept vital sea lanes safe and open for commerce for decades.

Former U.S. Deputy Secretary of State Richard Armitage often counseled that "getting China right means getting Asia right." Strengthening alliances with countries such as Japan, South Korea, and Australia is still the most important part of this strategy. Establishing new security partnerships with countries such as India, Vietnam, and Indonesia is also critical. But economic development and future prosperity is the region's top priority. For the tens of millions of Asians in these countries that depend on the Mekong River for their survival and livelihood, nothing matters more than a policy that addresses water rights.

It is still too early to say whether Barack Obama's administration will pursue wholeheartedly its newfound interests in the Mekong. But lending America's weight to local "bread and butter" issues is a clever way for Washington to win millions of new friends in the region -- and keep one very eager competitor at bay.

http://www.foreignpolicy.com/articles/2010...r_grab?page=0,1


Asking America to intervene in Mekong river disputes? Either this writer is not being serious, or just given to delusional dreams of Pax Americana.
DanTriVN
An article from 2008:

Chuyện tṛ với nhà toán học số một của Việt Nam

(Dân trí)- Ở tuổi bát tuần, sức khoẻ của GS Hoàng Tụy không c̣n dồi dào nhưng trí tuệ của ông vẫn sáng láng và trái tim ông vẫn ngùn ngụt cháy như thời trai trẻ, đặc biệt là thái độ của một trí thức yêu nước với các vấn đề quốc kế dân sinh và giáo dục.

Dưới đây là cuộc tṛ chuyện của GS Hoàng Tuỵ - nhà toán học số một của Việt Nam, với PV Dân trí:

Bệnh giả dối đang thành nỗi nhục lớn

Thưa GS, trong bức thư gửi thầy cô giáo nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam vừa qua, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đă rất lo lắng trước sự giả dối tồn tại trong ngành và toàn xă hội. Là nhà khoa học nổi tiếng bởi sự chính trực, ông nghĩ ǵ về nhận xét này?

Sự giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành giả dối. Thế nhưng đă có hơn một nhà khoa học nước ngoài nói thẳng với tôi rằng, điều thất vọng lớn nhất mà ông ta cảm thấy là sự giả dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xă hội ở các tầng nấc.

C̣n trong lĩnh vực giáo dục, một môi trường cần sự trong sáng?

Tôi không nói ở đây sự giả dối nhiều hơn ở lĩnh vực khác nhưng cũng không nói là ít hơn. Bản chất của giáo dục là trung thực và sáng tạo. Nhưng sáng tạo thế nào khi mà mọi thứ đều phải theo một lề lối, khuôn phép đă quy định sẵn, gần như bất di bất dịch từ mấy chục năm - giữa một thế giới thường xuyên biến động.

Rồi trung thực thế nào được khi mà người ta hàng ngày phải sống trong một môi trường giả dối mà minh chứng rơ nhất là tiền lương công chức. Chẳng ai sống nổi bằng lương nhưng rồi ai cũng sống đàng hoàng, dư giả.

Ngay khi mới nhận cương vị đứng đầu ngành Giáo dục, ông Nhân đă đặt ra hai vấn đề mấu chốt này và điều đó khiến chúng tôi rất mừng. Rồi đến hôm nay, ông lại phải nhắc lại điều đó một cách buồn bă.

Thưa ông, có lẽ cũng cần một sự cảm thông bởi dù là Phó Thủ tướng nhưng Bộ trưởng Nhân nhiều khi cũng "lực bất ṭng tâm", bí bách như người "múa gậy trong bị" bởi chỉ một việc tăng lương cho giáo viên, Bộ trưởng Nhân đă nhiều lần đề xuất nhưng đến nay vẫn chưa được chấp thuận?

Muốn chống tiêu cực, muốn người ta trung thực làm việc hết ḷng th́ điều mấu chốt là tiền lương phải đủ để người ta sống. Sinh thời, có lần Tổng bí thư Lê Duẩn hỏi về việc chống tiêu cực, tôi cũng đă trả lời thẳng thắn như vậy. Trong môi trường giáo dục, khi tiền lương không đủ sống th́ người ta sẽ t́m cách xoay xở để bù đắp lại. C̣n xoay xở như thế nào đó chính là nguyên nhân các căn bệnh chủ yếu của giáo dục hiện nay.

Lấy việc lọt vào top 200 làm mục tiêu là một sai lệch

Cách đây ít ngày, GS Simon Marginson (ĐH Melbourne - Australia) có nói mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ có trường đại học lọt vào top 200 trong số các trường đại học nổi tiếng thế giới là rất khó và khi đặt ra mà không đạt được th́ sẽ là "thất bại" cho mục tiêu kế tiếp. Là người có hơn 30 năm "lang thang" khắp các trường đại học nổi tiếng thế giới, ông có đồng t́nh với nhận xét này?

Ở đây có 2 phần. Thứ nhất, tôi không đồng t́nh với GS Simon về phần đánh giá cao các bảng xếp hạng đại học đă được công bố mấy năm nay bởi nó không phù hợp với những ǵ tôi đă tận mắt chứng kiến và sự đánh giá chung của nhiều giới khoa học tôi được quen biết. Cách xếp hạng hiện nay thường thiên về các trường nằm trong khối Anh - Mỹ mà xem nhẹ các nước khác như Pháp, Đức và đặc biệt là Nga. Mặt khác, có một số đại học được xếp hạng rất cao mà theo cảm nhận của nhiều người hiểu biết th́ không thể như vậy được.

C̣n vế thứ hai?

Vế thứ hai, tôi đồng t́nh với ư kiến đó là một mục tiêu không thực tế, không thiết thực vừa có thể làm sai lệch hướng phấn đấu hội nhập của chúng ta. Không nên cân đo, đong đếm ḿnh bằng một cái cân, một cái thước... không có độ tin cậy cao. Thật ngạc nhiên khi có vị lănh đạo ngành c̣n đ̣i hỏi phải cố gắng đạt mục tiêu đó trước năm 2020.

Chiến lược giáo dục 2008-2020 chỉ là một bản kế hoạch dài hạn

Khi trả lời phỏng vấn chúng tôi, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị B́nh đă đặt vấn đề cần có một cuộc cách mạng giáo dục triệt để. Theo ông, điều này đă thật sự cần thiết?

Ngay từ năm 2004, chúng tôi gồm 24 nhà khoa học và giáo dục trong đó có 5 giáo sư Việt kiều đă có bản kiến nghị chính thức gửi lên Trung ương, đề nghị cần phải "xây dựng lại giáo dục từ gốc", tức là phải thực hiện về một cuộc cách mạng giáo dục triệt để. Bản kiến nghị này đă được sự ủng hộ khá rộng răi của xă hội, các nhà khoa học và các nhà quản lư.

Trước đó, ngay từ 1995, cố Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đă triệu tập một cuộc họp quan trọng 3 ngày về giáo dục. Nhiều ư kiến xác đáng đă được phát triển trong cuộc họp đó, về sau được nghi lại trong Nghị quyết T.W.II (khoá 8) về giáo dục và khoa học. Tiếc rằng Nghị quyết rất đúng đắn nhưng triển khai thực hiện bất cập nên sau gần 10 năm, Thủ tướng Phan Văn Khải đă phải cay đắng thừa nhận chúng ta không thành công trong khoa học và giáo dục.

Theo ông, không thành công hay thất bại?

Đó là sự thất bại, thất bại lớn.

Ông có quá mạnh mẽ và v́ bức xúc mà thiếu khách quan?

Không phải tôi nói mà thực tế cuộc sống đ̣i hỏi. Chúng ta đă tốn không biết bao nhiêu thời gian, sức lực và tiền của. Ngay cả những người ở ngoài, ví như ông Lư Quang Diệu chẳng hạn, không phải vô cớ mà khi thăm Việt Nam, ông đă thẳng thắn khuyên chúng ta rằng: Thắng trong giáo dục mới thắng trong kinh tế!

Liệu chúng ta đă cần ngay một cuộc cách mạng triệt để?

Rất cần. Trong khung cảnh chương tŕnh và sách giáo khoa hiện nay, nếu cải tiến th́ cũng chỉ tạo sự thay đổi lẻ tẻ và không cơ bản. Trong khi đó, thời gian không c̣n cho phép chần chừ. Chúng ta đă chờ đợi điều đó xảy ra hàng chục năm nay rồi.

Nhưng được biết vừa qua, Bộ GD-ĐT đă xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020?

Chúng tôi đă nghiên cứu bản dự thảo này và nhận thấy bản Dự thảo chưa thể hiện tư duy giáo dục cần thiết. Nó không phải là bản "Chiến lược" mà chỉ là một bản kế hoạch dài hạn được soạn thảo theo lối làm kế hoạch hoá tập trung bao cấp, mọi cái đều áp đặt từ trên xuống trong khi đáng lư ra, chúng ta phải làm ngược lại.

Thi tốt nghiệp là lạc hậu và kém nhân bản

Trong khi chờ đợi kế hoạch cải cách giáo dục th́ theo ông có những vấn đề cấp bách ǵ cần giải quyết?

Khâu đột phá là giáo dục trung học phổ thông và thi cử. Cần thay đổi tổ chức và chương tŕnh, cách dạy ở THPT, để mở ra hai hướng chính cho học sinh đă xong THCS: một hướng đào tạo nghề và một hướng chuẩn bị tổng quát.

Có nghĩa phải cải cách thi THPT?

Thi tốt nghiệp các cấp là việc làm lạc hậu nhất, kém hiệu quả nhất một tàn tích c̣n sót của lối học cũ. Nó hoàn thiện một chu tŕnh: "Học để thi - Thi để lấy bằng - Lấy bằng để làm quan". Trong khi đó đáng lư học phần nào thi ngay phần đó, thi để học cho tốt, chứ không phải thi v́ mảnh bằng.

Nhưng bỏ thi th́ lấy ǵ để kiểm tra kiến thức của người học?

Tôi không nói bỏ thi mà là bỏ kỳ thi tốt nghiệp. Hiện nay, các nước có nền giáo dục tiên tiến không có kiểu thi tốt nghiệp như ta. Giống như việc sản xuất một cỗ máy, họ kiểm tra thật kỹ chất lượng từng chi tiết và khi hoàn thiện, chỉ kiểm tra việc lắp ráp. Trong khi đó ở ta th́ gần như bỏ qua khâu kiểm tra chi tiết mà chờ lắp hoàn thiện một cái máy rồi mới kiểm tra tổng thể. Cách làm này đă bộc lộ rất rơ những hạn chế mà nền giáo dục của chúng ta đang phải gánh chịu. Một số nước việc thi cử c̣n nhẹ hơn ta nhiều như Hàn Quốc, Trung Quốc mà người ta c̣n gọi là "địa ngục thi cử", không biết ở ta nên gọi như thế nào?

Kinh doanh giáo dục là sự phá hoại ghê gớm

Ông là người phản đối thương mại hoá giáo dục một cách quyết liệt. Tại sao vậy?

Tôi không phản đối thương mại giáo dục mà chỉ phản đối cách thương mại hoá như hiện nay. Trường tư v́ lợi nhuận phải được đối xử như các doanh nghiệp tư nhân trong các ngành khác. Nó phải hoạt động như mọi doanh nghiệp khác theo Luật Doanh nghiệp. C̣n đối với trường tư phi lợi nhuận th́ Nhà nước có thể và nên hỗ trợ về vốn, đất, và không thu thuế.

Nhưng có thông tin rằng hầu hết các trường nổi tiếng trên thế giới đều hoạt động theo mục đích kinh doanh?

Đó là thông tin sai sự thật do thiếu thông tin hoặc vụ lợi. Theo tôi được biết, tất cả các trường tư nổi tiếng thế giới đều hoạt động phi lợi nhuận. Làm giáo dục chạy theo mục đích kiếm tiền sẽ phá hoại ghê gớm nền giáo dục.

Xin cám ơn Giáo sư!

Bùi Hoàng Tám
(Thực hiện)

http://dantri.com.vn/c20/s20-261474/chuyen...ua-viet-nam.htm
DanTriVN
Sự thông minh và sự "chậm lớn" của người Việt

Cây cầu tre - tư duy và cơ chế quản lư xă hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lư xă hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.

Sau những giờ phút xúc động đến "nghẹn con tim", khi chứng kiến GS Ngô Bảo Châu được vinh danh trên trường quốc tế với Giải thưởng Fields danh giá, và được trong nước vinh danh thành "hiện tượng Ngô Bảo Châu", cũng như trước đây là "hiện tượng" Đặng Thái Sơn- nghệ sĩ biểu diễn piano, giải nhất cuộc thi quốc tế về Frédéric Chopin ở Warszawa (Ba Lan), th́ tâm lư người Việt trong chúng ta bỗng chùng xuống, im lặng khi nghĩ về đất nước ḿnh. Nghĩ về những tài năng Việt xa xứ. Đă đành, sự vinh danh vẻ vang GS Ngô Bảo Châu, một người Việt tài năng, th́ dân tộc Việt sẽ là dân tộc được thế giới nhắc nhớ đầu tiên.

Nhưng sẽ có một câu hỏi khác, một sự nhắc nhớ khác, khiến chúng ta hổ thẹn. Tại sao người Việt ra thế giới, đi làm thuê cho xứ người, lại thường thành danh, thành đạt? Và tại sao, người Việt chúng ta thông minh thế, mang tiếng tài nguyên rừng vàng biển bạc thế, phải cho nước ngoài khai phá...mà đất nước vẫn luẩn quẩn với cái nghèo, chậm phát triển, nay lại c̣n tụt hậu so với khu vực?

Một chuyên gia người Việt của tổ chức Ngân hàng Thế giới từng đặt câu hỏi: "Ta cứ hay vin vào chiến tranh. Thế nhưng chiến tranh đă lùi xa sau 35 năm, tại sao đến giờ, thu nhập b́nh quân/ người Việt/ năm mới đạt 1.000 USD. Trong khi đó, các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đă thành cường quốc kinh tế, thu nhập b́nh quân đạt trên 10.000 USD/ người/ năm".

Chiến tranh liệu có thể măi là "b́nh phong" để cho ta che đậy sự kém cỏi? Điều ǵ là vật cản khiến tố chất thông minh của người Việt không "phát" lên được, không biến thành tài nguyên chất xám làm giàu cho nước Việt, thành ṿng nguyệt quế kiêu hănh trên vầng trán nước Việt, khi mà rất nhiều quốc gia tương tự như ta, đều đang ngẩng đầu tiến về phía trước?

"Người nọ ngoi lên, người kia kéo xuống"- ngụ ngôn hay cuộc đời?

Khi đặt câu hỏi này, người viết bài tự nhiên nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn hiện đại: Có chiếc tàu đắm ngoài khơi xa, tàu cứu hộ được điều đến để cứu hành khách đang ngoi ngóp dưới biển. Người các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore...lần lượt được cứu thoát, bởi người nọ làm bệ đỡ cho người kia ngoi lên. Nhưng hành khách là người Việt Nam, cứ người nọ ngoi lên, th́ lập tức bị đồng loại- người kia kéo xuống. V́ thế mà cuối cùng hành khách là người Việt Nam chết hết.

Câu chuyện triết lư bi thảm về tính cách một dân tộc thật chua xót. Nhưng chắc chắn, nó "ngụ ngôn" trên cơ sở có thật. Hay nó bước ra cuộc đời, từ "ngụ ngôn" để trở thành tính cách người Việt?

Không biết có phải v́ quá thấm thía về câu chuyện ngụ ngôn, quá hiểu tính cách người Việt không, mà khi được đặt câu hỏi đề cập việc có chính sách quy hoạch bồi dưỡng cho những chuyên gia giỏi tuổi c̣n trẻ, một vị sếp cỡ Bộ trưởng lắc đầu quầy quậy: "Không được đâu chị ơi. Cứ "dàn hàng ngang cùng tiến" th́ không sao. Chứ đụng vào chuyện quy hoạch, bồi dưỡng người nọ người kia là chết ngay!"

Chẳng biết ông có chịu để "chết" không, nhưng rơ ràng, cơ quan ông "chết" v́ những người giỏi cũng chẳng thể bật được lên do chính sách cào bằng, "dàn hàng ngang mà tiến". Ḥa cả làng! Và cho nó...lành!

Chắc chắn câu chuyện và tâm lư của vị Bộ trưởng trên không phải là cá biệt. Mà đó cũng mới là chuyện xây dựng đội ngũ chuyên gia, không phải quy hoạch đội ngũ quản lư.

C̣n chuyện mới đây: Tại Hội nghị về chiến lược quản lư nhân sự do báo VNN và VN500 tổ chức, người ta nêu ra một vấn đề đáng chú ư. Nhiều công ty có tầm cỡ đang hoạt động trong nước ta cho biết, họ thường có vấn đề với nhân sự trung và cao cấp mà họ rất cần. Tại sao lại như vậy? Theo ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT Công ty ABBO, trong tất cả các cái "thiếu" có lẽ cái thiếu "tinh thần đồng đội" là quan trọng hơn cả.

"Nhiều nhà quan sát lịch sử Việt Nam cho rằng đây là một nghịch lư đáng ngạc nhiên. Dân tộc Việt Nam khi cần đă chứng minh được một khả năng đoàn kết cao độ trong các cuộc kháng chiến giành độc lập cực kỳ khó khăn, gian khổ.

Vậy mà từ người Pháp trước đây, rồi người Mỹ và nhiều người ngoại quốc khác sau này khi có cơ hội làm việc, tiếp xúc với người Việt lại có nhận xét, "một cá nhân người Việt th́ có thể hơn một người khác nhưng ba người Việt ngồi lại th́... lại có vấn đề!".

Cũng theo ông Trần Sĩ Chương, các nhà xă hội học dựa vào thuyết "Con người là sản phẩm của môi trường sống", hiện tượng này là do sự bất ổn định của hoàn cảnh lịch sử xă hội. Khi sống trong một xă hội có truyền thống bất ổn định th́ con người với bản chất sinh tồn bẩm sinh sẽ có khuynh hướng muốn hành động tự phát, thiếu ḷng tin vào tập thể, vào tương lai.

Từ đó, người ta không muốn đầu tư vào những cam kết, đầu tư và gắn bó xă hội có tính lâu dài thậm chí có khi c̣n "đạp lên nhau để sống".

Tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương chưa nêu được cái gốc của tố chất này. Nền văn minh của nước Việt là văn minh lúa nước. Dân tộc Việt có tới 80% dân số làm nghề nông. Một nét đặc thù của tư duy nông nghiệp là tư duy tư hữu; là "con gà tức nhau tiếng gáy", "sân gạch nhà ông không thể cao hơn sân gạch nhà tôi"...

Chính tố chất "tư hữu đậm đặc" này tuy lặn sâu trong tiềm thức con người Việt, khó "điểm mặt chỉ tên", nhưng nó lại luôn kề vai sát cánh với mỗi người Việt cho dù họ đă là trí thức, từ cơ quan nghiên cứu đến công sở...và nó là "người t́nh" trăm năm thủ thỉ, gắn bó với ta khi ta cộng tác, làm việc với đồng nghiệp, bằng hữu. Bỗng nhớ tới một câu "ngụ ngôn" khác sâu cay không kém: "Trong cái sự mất đoàn kết, th́ trí thức là hay mất đoàn kết nhất, rồi mới đến...đàn bà"(!).

"Gieo tư duy gặt số phận"?

Tính cách người Việt ấy, lại được đặt trong một cơ chế và tư duy quản lư ra sao?

Khi bàn về sự lận đận, yếu kém và sự tụt hậu của xă hội chúng ta trong những năm tháng thách thức nghiệt ngă này, có nhà thơ đă nói: H́nh như con người có số phận, th́ dân tộc cũng có số phận?

Bỗng nhớ tới câu chiêm nghiệm về luật nhân- quả của đạo Phật, răn dạy con người ở kiếp nhân sinh: "Gieo tính cách, gặt số phận". Nhưng luật Đời cũng luôn cảnh báo cho bất cứ dân tộc nào- gieo tư duy gặt số phận?

Tư duy của dân tộc Việt chúng ta đă từng đổi mới để thích ứng với đ̣i hỏi của thời hiện đại, từ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng công bằng mà nói, tư duy đó thực chất vẫn không thoát khỏi dấu ấn tiểu nông, gia trưởng. Trong tố chất "tính cộng đồng" c̣n tồn tại cả tố chất "bầy đàn", h́nh thành nên trên h́nh thái lao động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công, không vượt khỏi tầm chắn của lũy tre làng.

Chính tư duy "bầy đàn" và trọng hư danh của con người tiểu nông, khi có quyền lực, dễ trở nên e ngại, pḥng ngừa với những người có tư duy độc lập khác với số đông. Thời nào, và dân tộc nào cũng vậy, luôn có những con người thông minh, trí tuệ, luôn có những con người biết nh́n ra sớm hơn cộng đồng ḿnh, dám nhận thức bằng sự kiểm chứng thực tiễn. Nhưng tư duy tiểu nông khi cực đoan, dễ nghi ngờ, hoặc đánh đồng sự "khác biệt" của người tài là sự đối trọng, thậm chí đối nghịch.

Cơ chế quản lư xă hội, một khi được xây nên từ tư duy tiểu nông ấy, tạo nên một hệ thống chân rết cũng sẽ khó chấp nhận những cá tính sáng tạo, mà chỉ thích sự 'cào bằng" và sự nghe lời. Khi ấy th́ sự thông minh, năng lực sáng tạo, và niềm tin lư tưởng chân lư là thực tiễn, rất có thể trở thành bi kịch cho chính người tài, nếu không, chí ít anh ta cũng trở nên hoặc đơn độc, hoặc bị vô hiệu hóa trong cộng đồng.

Tư duy và cơ chế quản lư "cào bằng" ấy tạo ra sự bất công với những người tài, chỉ gặt hái được sự a dua cơ hội của sự háo danh, sự vô cảm của số đông và làm thui chột tài năng sáng tạo thực chất. Đó chính là nguyên nhân sâu xa, tạo ra "hố sâu" ngăn cách giữa hai bờ tụt hậu và phát triển. Một dân tộc có nhiều người thông minh như dân tộc Việt, vẫn có thể là dân tộc "chậm lớn" v́ thế.

Liệu dân tộc Việt chúng ta có vượt lên được chính ḿnh không?

Nh́n ra thế giới, ông Trần Sĩ Chương cho rằng, mặc dù cá nhân người dân Nhật không được tiếng học giỏi, lanh lợi như người Ấn, người Hoa hay so với người Việt chúng ta...nhưng theo ông Chương, điều kiện "công bằng trong xă hội" là một yếu tố quyết định để mọi cá nhân có ḷng tin sự đóng góp của ḿnh được ghi nhận một cách ṣng phẳng, được đền bù xứng đáng về mặt vật chất lẫn tinh thần.

"Từ đó, con người mới tin vào ư nghĩa của sự đoàn kết, đem lại cái tổng giá trị lớn hơn từng giá trị của cá nhân đứng riêng lẻ cộng lại và cá nhân họ "được" nhiều hơn là nếu chỉ nghĩ đến ḿnh. Con người bất cứ ở đâu, nếu sống trong một điều kiện xă hội c̣n nhiều bất công th́ sẽ khó sống trung thực. Từ đó sự tự trọng, tương kính cũng sẽ không có.

Trong xă hội Mỹ, cá nhân chủ nghĩa, tinh thần cầu lợi có lẽ cao hơn bất cứ xă hội nào khác. Nhưng họ may mắn có được một cơ chế xă hội mà đa số người ta tin là công bằng. Câu phản biện đầu môi, hữu hiệu nhất của một người Mỹ (ngay cả những đứa trẻ con) đối với người khác khi tranh luận một vấn đề là vịn vào cái lư lẽ "That's not fair!" (Thế là không công bằng đâu nhé!)"(VNR500,12/8/2010)

Như vậy, tư duy và cơ chế quản lư xă hội hay hoặc dở, hoàn thiện hay khiếm khuyết, tất yếu dẫn đến hoặc kết quả hoặc hệ lụy khác nhau căn cứ vào việc sử dụng người, đặc biệt là những người tài. Mà đối với những người tài, nhất là các nhà khoa học, trí thức lớn, không chỉ đồng lương, quan trọng hơn là được tự do học thuật, tự do sáng tạo. Việc sử dụng những người tài, đ̣i hỏi những nhà quản lư có tầm, có tâm, biết tôn trọng lao động sáng tạo và..."không sợ họ".

Cơ chế quản lư xă hội nặng tính cào bằng, thậm chí các thang bậc giá trị trắng đen lẫn lộn, sớm muộn cũng gây ra những bất công, làm ly tán ḷng người. Nhiều người tài, cũng từ sự bất công đó mà ra đi. Sự suy yếu, tụt hậu của dân tộc là không tránh khỏi

Cơ chế quản lư xă hội công bằng, là động lực kích thích mọi người làm việc, khiến người tài tin tưởng, dốc ḷng cống hiến. Không gọi, dù xa xứ, sớm muộn họ cũng sẽ quay về. Sự phát triển của dân tộc là tất yếu.

Không ai có thể quyết định số phận dân tộc Việt bằng chính người Việt. Cây cầu tre- tư duy và cơ chế quản lư xă hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lư xă hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.

Khi đó mới có thể kỳ vọng, sự thông minh song hành với sự lớn nhanh của người Việt, cũng tức là song hành với sự phát triển mạnh của dân tộc.

Xin đừng để sự "chậm lớn" của người Việt cũng thành một "hiện tượng", nhưng là "hiện tượng" buồn!

http://tuanvietnam.net/2010-08-20-su-thong...-cua-nguoi-viet
DanTriVN
A book to look out for:

http://www.foreignaffairs.com/articles/667...m-rising-dragon
DanTriVN
An old article by Bill Hayton:

Vietnam's New Money
An influx of wealth and privilege is shaking up this socialist country. But, as pro-democracy activists are jailed and the network of power tightens, the Communist Party's strong hand may be turning economic progress into a social disaster.

BY BILL HAYTON | JANUARY 21, 2010

On Nov. 16, 2008, two of Vietnam's new entrepreneurs were married in the Caravelle, Ho Chi Minh City's first luxury hotel, once home to journalists covering the "American War." The groom was 36-year-old Nguyen Bao Hoang, managing general partner of an investment firm, IDG Ventures Vietnam, and his bride was 27-year-old Nguyen Thanh Phuong, chairperson of another investment firm, VietCapital. Between them, their two companies controlled around $150 million of investments in Vietnam.

But the wedding wasn't just another story about new money in Vietnam. Nguyen Thanh Phuong isn't just an investment banker -- she's the daughter of the prime minister, Nguyen Tan Dung. The man she was marrying is an American citizen, the child of parents who fled Vietnam in 1975 to escape the communists -- now returned to wed the daughter of one of them.

Their union encapsulates many elements of the new Vietnam where, despite an influx of new wealth, the Communist Party still dominates both the public and private sectors. Many "private" businesses are either former state-owned enterprises (SOEs) or still have some state ownership, and most are still run by party members. Most of the controllers of the commanding heights of the private sector are party appointees, their family, or their friends. The Communist Party elite are turning Vietnamese capitalism into a family business. And if this week's conviction of four pro-democracy activists on subversion charges is any sign, the consolidation of party power is a very frightening development for Vietnam's future.

There are many examples of the family relationship between money and power in today's Vietnam: One of Vietnam's richest men, Truong Gia Binh, is chairman of the country's biggest indigenous IT firm, FPT. He's also the only man in Vietnam routinely referred to with the prefix "former son-in-law" because he was once married to the daughter of Vo Nguyen Giap -- war hero, retired army commander, and former deputy prime minister. During the 1990s, if a business needed contacts in the army's extensive array of companies, or in construction or communications, Giap was the man to see.

Another example is Dinh Thi Hoa, Vietnam's first Harvard University MBA graduate. In the early 1990s, when the World Bank wanted to stimulate private-sector development in Vietnam, it awarded many scholarships to young people, including Hoa. On her return, Hoa used her newfound knowledge to found a company called Galaxy that now owns a PR agency, most of the good Western-style restaurant chains in the country, a big cinema in Ho Chi Minh City, and a film production company. In many ways it's a model of private-sector success. But Galaxy didn't just spring up out of nowhere. It's one of the many firms created by the children of the party elite. When the World Bank chose Hoa for the scholarship, her father was deputy foreign minister.

The story of Vietnam's economic liberalization has been, to quote Ho Chi Minh on national unity, "success, success, great success." In 1993, according to government figures, almost 60 percent of the population lived below the poverty line. By 2004 that figure was down to 20 percent. The country has met most of its Millennium Development Goals, development targets set by the United Nations, escaping the ranks of the poorest countries to join the group of "middle-income states." People's living standards are soaring, their horizons are widening, and their ambitions are growing.

But the state's control over Vietnam's expansion is troublesome. The marriage between party and private interest is distorting the economy toward the wants of the few rather than the needs of the many. And networks of crony socialism are becoming a threat to Vietnam's future stability. Vietnam risks the fate of many of the World Bank's previous poster children -- boom followed by bust.

The biggest state corporations are setting up unaccountable funding channels to finance projects with minimal economic logic. By June 2008, 28 SOEs had spent around $1.5 billion establishing or buying controlling stakes in fund management companies, stock brokerages, commercial banks, and insurance firms. Three-quarters of Vietnam's finance companies are now owned by the biggest SOEs (those known as general corporations). Many also have bought securities companies dealing in shares. Add all this together, and several of Vietnam's biggest general corporations have the potential to become self-financing black boxes with opaque funding arrangements.

Although the days of the soft loan from a state bank are largely past, there are plenty of other ways to channel money to SOEs. The state's Vietnam Development Bank (subsidized by aid from foreign governments) and its Social Insurance Fund (expected to become the biggest investor in the country by 2015) seem to act as unaccountable slush funds for the benefit of the state sector. Clearly SOEs have a significant, if not necessarily bright, future ahead.

The Vietnamese Communist leadership wants to run the country along the lines of Gaullism in France -- where the commanding heights of the public and private sectors are coordinated by an elite trained in such institutions as the École Nationale d'Administration. Under "Vietnamese Gaullism," a behind-the-scenes elite (the party) is supposed to set the overall direction of policy and then delegate its implementation to the state (which is controlled by the party). The government then draws up the laws and uses whatever resources are available to it -- the state bureaucracy, SOEs, the private sector, foreign investors, international donors, etc. -- to see the policy executed. Behind the scenes, the party monitors, corrals, and presses the various actors to make sure that its policy is followed. That, at least, is what the party would like to have happen. The reality is usually something quite different.

With easy money around, it's not hard to bribe patrons, officials, and regulators to turn a blind eye to breaches of the law. The party members in charge of the SOE tail end up wagging the party policy dog. But this isn't the whole story. What is remarkable about Vietnam is the way, at moments of crisis, the Communist Party can discipline its errant members and bring the economy back under central control. But how much longer can it do so?

Until recently, Vietnam had shared the benefits of growth more equitably than any of its neighbors. The party's socialist orientation still meant something. But in the future, redistribution will mean taking wealth away from the party's biggest supporters. Does the party leadership have the ability to stand up to its newly rich citizens and demand they hand over part of their wealth through taxation to benefit poorer people in faraway provinces? Do the convictions this week signal that the corrupt networks of party, power, and privilege have already gotten out of control? If so, Vietnam's new money could collapse under its own weight.

http://www.foreignpolicy.com/articles/2010..._money?page=0,1
DanTriVN
Báo Hongkong dẫn lời ngoại giao Trung Quốc: Việt Nam ‘mong manh như trứng’
Wednesday, August 25, 2010

Đừng cậy Mỹ, mà ‘ảo tưởng biển Đông’

BẮC KINH, Trung Quốc - Trong một lời lẽ được xem là cứng rắn và công khai nhất từ trước tới nay, Trung Quốc lên tiếng cảnh cáo Việt Nam “thân thiện với Mỹ” qua các hoạt động với hải quân Hoa Kỳ trên biển Đông cũng như trên đất liền mới đây.

Hôm Thứ Tư, 25 Tháng Tám, vừa qua, bài viết “Trung Quốc cảnh cáo các quốc gia láng giềng ‘thân thiện với Mỹ,’” trên nhật báo The China Post, xuất bản tại Hongkong, trích lời bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, cảnh cáo Việt Nam và Nam Hàn tập trận với Hoa Kỳ trong thời gian qua, và nói rằng như vậy sẽ “không tốt cho sức khỏe của họ.”

“Việt Nam đang ở trong t́nh trạng ‘mong manh như vỏ trứng’ với nhiều nguy cơ đến từ mọi phía,” nhật báo The China Post trích lời đại diện Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói.

“Việt Nam,” bà Khương Du cảnh cáo, “đang làm cho người Trung Quốc không hài ḷng,” theo nhật báo The China Post.

“Hà Nội có thể đánh giá quá cao khả năng bảo vệ của Mỹ,” bà nói thẳng thừng. “Nếu Trung Quốc và Việt Nam giao chiến, không có chiếc hàng không mẫu hạm nào của bất cứ quốc gia nào có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam.” Nhật báo The China Post trích tiếp lời của bà Khương Du.

Bà c̣n “cố vấn” Việt Nam nên “từ bỏ ảo tưởng là muốn làm ǵ th́ làm tại biển Đông dưới sự bảo vệ của hải quân Mỹ.”

Bắc Kinh cũng chỉ ra rằng Hoa Kỳ hiện đang bị sa lầy trong hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan đồng thời đang đương đầu với khó khăn kinh tế và ngân sách, sẽ dẫn đến việc giảm chi phí quốc pḥng, trong khi Trung Quốc lại ở kế bên (Việt Nam và Nam Hàn).

Nhật báo The China Post cũng cho rằng “Bộ Trưởng Quốc Pḥng Mỹ Robert Gates mới đây nói rằng mặc dù ngân sách quốc pḥng tăng khoảng 1% hoặc 2% mỗi năm, điều này vẫn không đủ để duy tŕ lực lượng quân sự Mỹ hiện nay, một lực lượng đ̣i ḥi ngân sách quốc pḥng phải tăng từ 2% tới 3% mỗi năm.”

“Trong khi đó, Trung Quốc đang ở trong t́nh trạng kinh tế tốt hơn và có thể duy tŕ khả năng gia tăng ngân sách quân sự lên tới trên 10% mỗi năm,” nhật báo The China Post viết.

Hiện nay, Hoa Kỳ và Nam Hàn đang có một cuộc tập trận kéo dài 10 ngày tại biển Hoàng Hải, nằm giữa bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc. Cuộc tập trận này nhắm vào Bắc Hàn sau khi quốc gia Cộng Sản này bị tố cáo đă bắn ch́m một chiến hạn Nam Hàn làm thiệt mạng 46 người.

Hồi đầu tháng này, hàng không mẫu hạm lớn nhất của Mỹ, USS George Washington, đă đậu ngoài khơi Việt Nam và để các quan chức của quốc gia Đông Nam Á này lên thăm viếng tàu.

Sau đó vài ngày, khu trục hạm USS John McCain đă ghé cảng Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ và Việt Nam c̣n tổ chức một cuộc tập trận mà Hà Nội nói là không mang tính quân sự.

Sau đó, Hoa Kỳ lại bắn tiếng sẽ hợp tác với Việt Nam phát triển năng lượng hạt nhân và có thể để cho Việt Nam tinh luyện chất “uranium.”

Hồi tuần trước, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng lần đầu tiên tổ chức một cuộc hội thảo cấp thứ trưởng về hợp tác quốc pḥng lần đầu tiên tại Hà Nội.

Tuy nhiên, về chiến lược sắp tới của Trung Quốc, nhật báo The China Post lại kết luận rằng “trong khi chiến lược của Bắc Kinh nhằm đưa ra đe dọa và khiêu khích trong khu vực có thể tạo ra hiệu quả, nếu khôn ngoan hơn, Trung Quốc nên quay trở lại chính sách thân thiện và hợp tác phát triển với các nước trong khu vực.” (Đ.D.)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmvi...17829&z=157
DarthVader
the hell...?
FieryOFTheEast
QUOTE (DanTriVN @ Aug 24 2010, 05:40 PM) *
Vietnam advisable not to play with fire

13:59, August 17, 2010

By Li Hongmei

The relations between China and the U.S. hit another rough patch, and any unwise decision made by Vietnam would only intensify the brewing tensions. Vietnam might give the plausible explanation that it can do as it pleases within the framework of the International Law. Or it is just presenting the guesswork to China, but its action has actually betrayed its intention. When China resolves to defend the bottom line of its national interest, Vietnam can no more play deaf or mute.

Perhaps, Vietnam should have realized that caught in between the two powers, it is playing a risky game, with its own situation as precarious as a pile of eggs and potential hazards lurking on its every side. If it continues to incite the two powers to fight at close quarters, it is nobody but Vietnam itself would come to grief first.

Since July 23, when Hillary Clinton claimed in Hanoi that "the United States has national interests in the South China Sea," and soon afterwards, the US carrier George Washington and a destroyer successively sailed in the port of its former foe, and a US-Vietnamese joint maritime exercise took shape, some Vietnamese officials, experts and scholars have frequently written articles introducing the strategic position and significance of some islands that it occupies at present. Certain officials have publicly named China.

International opinion now holds the view that Vietnam is making desperate efforts to internationalize and multi-lateralize Sino-Vietnamese disputes over South China Sea territory, and wants to enlist the help of the United States to counterbalance China in the South China Sea.

If Vietnam is currently carrying out what it really intends to do, and expects to see the Chinese deciphering to the effect, it will be another thing. But if Vietnam still frets about the fallout of what it is doing now, and cares about China's accumulating displeasure over its recent actions, it should take a different path to water down its undue hostility toward China, or at least, not to play to aggravate Sino-US confrontation, as this is likely to have a substantive effect on China's future Vietnam policy.

In Ho Chin Minh's day, China and Vietnam established the brotherly rapport. Even though it is unrealistic to come back to the good old days, Vietnam should, in the minimum, constructively respond to China's consistent good- neighbor policy on its periphery.

In actuality, China has respected Vietnam over the past few years and highly regarded the feelings of the Vietnamese public; Conversely, Vietnam should also respect China and the Chinese public. Vietnam must not play a dangerous game between China and the United States, which is something of playing with fire.

However, Vietnam's actions now are very selfish and only thinking about itself without any thought for the periphery. It might well overestimate the capacity of Uncle Sam's protective umbrella.

It is advisable for Vietnam to give up the illusion that it can do what it likes in the South China Sea under the protection of US Navy. Should China and Vietnam truly come into military clashes, no aircraft carrier of any country can ensure it to remain secure.

On the other hand, China does not need to overreact and pick a war of wards with Washington over a non-issue like this. "Dragon doesn't need to snarl over the nonsense", as writes a Chinese blogger.

The best response from China instead would be to turn on its charm to win its deserved influence and prestige in South-east Asia. For the past decade, China has achieved great success in leveraging its economic influence and diplomatic clout to reassure South-east Asian countries and improve its image in the region.

To wit, neighbors are dearer than distant relatives, as goes a popular Chinese saying, and if the rapprochement newly set into motion between the used-to-be foes like Vietnam and the U.S. is really that dear.

The articles in this column represent the author's views only. They do not represent opinions of People's Daily or People's Daily Online.

http://english.peopledaily.com.cn/90002/96417/7107160.html


HAHAHAHAHHAHAHAHHAHAHAHAH MY @$$
DanTriVN
Tiếp tục cho ‘con nợ’ Vinashin vay thêm

Chính phủ Việt Nam yêu cầu các ngân hàng thương mại cho phép Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) hoăn trả nợ và tiếp tục cho vay thêm.

Truyền thông trong nước hôm thứ Sáu đưa tin Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đă làm việc với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm giăn nợ đến hết năm 2011 cho Vinashin.

Bước đi này cũng có nghĩa rằng Vinashin sẽ được tạo điều kiện vay thêm vốn lưu động nhằm hoàn thành các hợp đồng đă kư.

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, trưởng Ban chỉ đạo tái cơ cấu Vinashin, cũng yêu cầu Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đàm phán với các chủ nợ quốc tế đối với các khoản nợ của Vinashin.

Vinashin phát hành trái phiếu trị giá 187 triệu đôla và đi vay 600 triệu đôla trong năm 2007.

Một số kinh tế gia đă chỉ trích chính phủ hỗ trợ Vinashin quá mức.

Vinashin cũng được chính phủ cho vay 750 triệu đôla khi chính phủ bán trái phiếu quốc tế hồi năm 2005.

Thông báo của Văn pḥng Chính phủ cũng đề cập việc Bộ Tài chính làm báo cáo để tŕnh Thủ tướng nhằm thực hiện điều được mô tả là ‘tạm ứng vốn cấp điều lệ cấp bù’ cho Vinashin.

Vốn điều lệ

Ông Nguyễn Sinh Hùng được trích dẫn nói trong cuộc họp báo ngày 04 tháng Tám rằng chính phủ từng cấp cho công ty hơn 100 tỷ đồng.

Tuy nhiên con số này không khớp với số mà truyền thông trong nước đưa cao hơn rất nhiều.

Trang web của Vinashin nói rằng chính phủ cấp cho một trong các công ty con của Vinashin là Công ty Đóng tàu Hạ Long 200 tỷ đồng vốn điều lệ.

Vinashin gặp rắc rối tài chính do đầu tư vào nhiều hoạt động đi ra ngoài mảng kinh doanh chính là đóng tàu.

Tính đến cuối tháng sáu, Vinashin ngập lụt trong nợ nần tới 4.6 tỷ đôla.

Vào ngày 31/07, Bộ Chính trị ĐCSVN đă họp để nghe ư kiến từ các cơ quan thẩm quyền cao nhất của Đảng, Quốc hội, Bộ Công an…nhằm đánh giá về Vinashin.

Chỉ bốn ngày sau cuộc họp của Bộ chính trị, ông Phạm Thanh B́nh, cựu lănh đạo Vinashin, đă bị bắt.

Kết luận của nhóm lănh đạo cao nhất nước nói nếu không có các chính sách, biện pháp đúng đắn, kịp thời, t́nh h́nh của Vinashin có thể gây tác động tiêu cực đến ổn định chính trị.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/20...in_update.shtml
DanTriVN
Việt Nam tuyên bố chính sách quốc pḥng ‘ba không’

HÀ NỘI – Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ quốc pḥng Việt Nam, vừa đưa ra lời tuyên bố được coi là chính sách quốc pḥng của Việt Nam trong chuyến thăm Bắc Kinh và gặp gỡ các nhân vật cao cấp nhất của quân đội Trung Quốc.

Bản tin của Đài Tiếng Nói Việt Nam (VOV) dẫn lời tướng Nguyễn Chí Vịnh ‘khẳng định chính sách ‘ba không’ của Việt Nam, và nhấn mạnh rằng mối quan hệ quốc pḥng giữa hai nước láng giềng là ‘tốt đẹp.’

Cụ thể, chính sách ‘ba không’ mà tướng Nguyễn Chí Vịnh nhắc đến, bao gồm: ‘không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.’

Theo VOV, lời tuyên bố được đưa ra trong bối cảnh một cuộc họp báo tại Trung Quốc, nơi ông Vịnh dẫn đầu ‘Đoàn đại biểu Bộ quốc pḥng Việt Nam sang thăm Trung Quốc từ ngày 22 đến 25 tháng 8 để chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng quốc pḥng ASEAN mở rộng (ADMM+) dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào 12 tháng 10 tới.’

VOV nói rằng, ‘Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc Việt Nam có liên minh quân sự với Mỹ hay không, cũng như phản ứng của Việt Nam trước sự lớn mạnh không ngừng của quốc pḥng Trung Quốc.’

Lời tuyên bố của trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, người được đánh giá rất có khả năng giữ chức Bộ trưởng quốc pḥng Việt Nam sau đại hội đảng lần thứ 11 vào năm tới, cho thấy phía Việt Nam muốn trấn an Bắc Kinh sau hàng loạt biến cố gần đây trên biển Đông với tín hiệu Việt Nam đang xích lại gần Hoa Kỳ.

Sau khi giới chức quốc pḥng Việt Nam thăm mẫu hạm USS Washington cùng khu trục hạm John McCain ghé Đà Nẵng, Bắc Kinh đă liên tục ‘bật đèn xanh’ để truyền thông nước này liên tục chỉ trích và đe dọa Việt Nam đang ‘đùa với lửa’ khi hợp tác quân sự với Hoa Kỳ.

Theo VOV, trong chuyến thăm Trung Quốc, ‘thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh đă có cuộc hội đàm với Phó tổng tham mưu trưởng quân giải phóng Trung Quốc Mă Hiểu Thiên, gặp Bộ trưởng Quốc pḥng Trung Quốc Lương Quang Liệt.’

VOV cho biết thêm,’ trong các buổi hội đàm và tiếp xúc, phía Việt Nam nhận thấy, những quan điểm mà Trung Quốc đưa ra phù hợp với quan điểm và các vấn đề mà ASEAN đă thống nhất. Trung Quốc bày tỏ ủng hộ Việt Nam với tư cách là nước chủ nhà tổ chức thành công hội nghị lần này.’

‘Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh đă chuyển lời mời tham dự hội nghị và thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc pḥng Việt Nam Phùng Quang Thanh tới Bộ trưởng quốc pḥng Trung Quốc Lương Quang Liệt.’- Theo VOV.

Thế nhưng, bất chấp lời ‘trấn an’ của tướng Vịnh, Trung Quốc vẫn gia tăng sức mạnh quân sự với mục đích ‘đe nẹt’ các quốc gia có chủ quyền trong khu vực biển Đông.

Khi tướng Nguyễn Chí Vịnh vừa kết thúc chuyến thăm Trung Quốc, cũng là lúc Bắc Kinh đưa ra lời tuyên bố rằng tàu ngầm của họ vừa cắm thành công quốc kỳ ở đáy biển Đông.

Hăng tin Reuter, hôm 26 tháng 8, cho hay, ‘chính quyền Trung Quốc tuyên bố một tàu ngầm nhỏ có người điều khiển đă cắm quốc kỳ dưới đáy biển Đông, nơi mà Trung Quốc nói ‘là vùng biển Trung Quốc va chạm với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á v́ tranh chấp lănh thổ.’ (KN)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmvi...=117892&z=1
DanTriVN
Đập phá nhà máy vàng Bồng Miêu, cướp 5 tấn quặng vàng

Nửa đêm ngày 24-8 và rạng sáng ngày 25-8, hơn 500 người dân tại 5 thôn của xă Tam Lănh, huyện Phú Ninh, Quảng Nam đă bao vây và đập phá Nhà máy tuyển quặng vàng của Công ty TNHH Khai thác vàng Bồng Miêu.

Tan hoang nhà máy vàng Bồng Miêu

Cả đêm hôm qua và rạng sáng hôm nay, khu vực nhà máy khai thác vàng Bồng Miêu ch́m ngập trong sự hỗn độn như một băi chiến trường ngổn ngang đá sỏi và nhà xưởng, xe ô tô, máy móc…bị đập phá tan tành.

Theo ghi nhận, cảnh tượng đầu tiên hiện ra trước mắt là những thanh sắt nơi cổng vào nhà máy bị những người dân đập phá cong queo. Vương văi trên lối cổng chính vào nhà máy là những cục đá, màn h́nh vi tính, ti vi, máy camera quan sát và kính vỡ… trải dọc theo những lối đi vào khu vực nhà máy và công xưởng.

Tại pḥng y tế, nơi trước sân là bàn phẫu thuật bị lôi ra ngoài vứt chỏng chơ, trên lối đi vương đầy bơm kim tiêm và các loại thuốc rơi văi. Đi vào phía trong khu nhà hành chính, đầy những cánh cửa kính bị đập bể. Những bờ rào lưới B40 vây quanh bảo vệ nhà máy bị cắt từng mảng.

Đến sáng 25-8, cả nhà máy này đă phải ngừng hoạt động, toàn bộ dây chuyền tuyển quặng là khối sắt thép lạnh tanh, phía dưới nền là nước tràn ra bốc mùi nồng nặc của hóa chất xử lư khai thác vàng.

Ông Trần Hà Tiên, Phó Tổng Giám đốc nhà máy vàng Bồng Miêu đưa tay chỉ cả khu vực nhà máy ngổn ngang đất đá, thùng phuy hóa chất nằm lăn lóc, những tấm cửa kính bị đập vỡ toang hoác…

Ông Tiên kể lại rằng, cả đêm hôm qua và rạng sáng nay, bảo vệ nhà máy cùng lực lượng công an đă không thể cản nổi hơn 500 người dân trong khu vực tràn vào nhà máy đập phá, lấy quặng vàng.

Vụ đập phá giữa đêm khuya này đă gây thiệt hại lớn về cơ sở vật chất. Ông Trần Hà Tiên nói không biết đến bao giờ nhà máy có thể hoạt động trở lại.

Thống kê thiệt hại ban đầu từ Công ty vàng Bồng Miêu và báo cáo của UBND xă Tam Lănh cho biết: Những người dân “tấn công” vào nhà máy vàng Bồng Miêu đă lấy đi 5 tấn quặng vàng, 2 thùng than hoạt tính có chứa 1 kg vàng. Toàn bộ cửa kính của pḥng y tế bị đập vỡ, một số dụng cụ y tế, thuốc men bị mất.

Toàn bộ hệ thống camera quan sát đă bị đập phá và cửa kính của 5 xe ô tô bị bể do ném đá.

"Cái sảy nảy cái ung"

Theo t́m hiểu của chúng tôi, sự việc người dân tràn vào nhà máy đập phá bắt nguồn từ một vụ việc cách đó 1 ngày.

Theo báo cáo khẩn của ông Bùi Quang Minh, Chủ tịch UBND xă Tam Lănh gửi cơ quan chức năng huyện Phú Ninh và tỉnh Quảng Nam cho biết: Sự việc bắt đầu từ đêm 23-8, khi em Dương Văn Yên (SN 1991, trú tại thôn 5, xă Tam Lănh) vào khu vực băi thải quặng nhà máy để mót quặng vàng th́ bị gí roi điện vào người phải đi cấp cứu.

Bức xúc trước vụ việc con ḿnh bị gí roi điện bất tỉnh, vào lúc 8 giờ sáng 24-8, ông Dương Văn Thanh, cha của em Yên cùng một số người dân kéo đến Công ty Vàng Bồng Miêu yêu cầu giải quyết.

Nhận được tin báo, lănh đạo Công ty vàng Bồng Miêu phối hợp với chính quyền địa phương xă Tam Lănh, huyện Phú Ninh và cơ quan công an giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, gia đ́nh người bị hại vẫn không đồng ư và tự ư bỏ về.

Đến 14 giờ chiều cùng ngày, khi 2 xe ô tô đưa đón lực lượng bảo vệ và xe chở thực phẩm cung cấp cho công ty vào đến ngă ba An Lâu, trên đường vào nhà máy, th́ bị hàng trăm người dân chặn lại. Đến 19 giờ cùng ngày, mặc dù công an và cơ quan chức năng của huyện và tỉnh kiên tŕ giải thích, nhưng người dân vẫn không chịu giải tán.

Ngay tại thời điểm đó, một số người quá khích đă lôi kéo hàng trăm người dân kéo đến và bao vây nhà máy khai thác vàng Bồng Miêu. Ông Bùi Quang Minh, Chủ tịch UBND xă Tam Lănh cho biết: Đến 20 giờ đêm, số lượng người dân kéo vào bao vây nhà máy vàng Bồng Miêu lên đến 500 người. Một số đối tượng quá khích đă la hét, dùng đá tấn công lực lượng bảo vệ và phá cổng, hàng rào bảo vệ tràn vào nhà máy.

Sự việc kéo dài đến 2 giờ sáng ngày 25-8, khi lực lượng cơ động công an tỉnh đến hiện trường, đám đông mới chịu giải tán.

“Khi người dân phá cổng, hàng rào nhà máy tràn vào nhà máy đă đụng độ với lực lượng bảo vệ và cảnh sát cơ động nên đă có 2 người phụ nữ bị ngất xỉu và một người đàn ông trúng đá vào đầu bị thương tích. Hiện họ đang được điều trị tại bệnh viện đa khoa Quảng Nam…” - ông Bùi Quang Minh cho biết.

Được biết, trong buổi chiều 25-8, lănh đạo tỉnh Quảng Nam đă đến thị sát trực tiếp nhà máy vàng Bồng Miêu và đối thoại với hơn 1.000 người dân tại xă Tam Lănh.

Theo Vũ Trung (Vietnamnet)

http://nld.com.vn/20100826095031529P0C1019...-5-tan-vang.htm
DanTriVN
Solving South China Sea Spat
August 26, 2010

Australian Prime Minister Julia Gillard used the phrase 'Yes, we will' to launch her re-election campaign. The country could also use some of the 'Yes, we will' spirit to help improve China-US and China-Vietnam relations.

The United States and Australia both have strong maritime interests in the region, in terms of sea-based resources and also trying to ensure free sea lanes. But China is also a major maritime stakeholder, with ever-increasing sea-based interests commensurate with its rapid economic growth.

As with many powers before it, China's growing maritime interests could overlap and even conflict with others. Yet it would be more precise to say that it’s often others’ claims that have overlapped with earlier Chinese claims. For example, in 1947, the Chinese government raised a claim over the South China Sea, a claim not made by some Association of Southeast Asian Nations states until as late as the 1970s or even 1980s.

Such conflicting claims by the parties involved in disputes over the South China Sea (or elsewhere) aren’t necessarily ill-intended. But, regardless, some way needs to be found to peacefully reconcile these competing claims. For instance, China has opposed the USS George Washington's participation in drills in the Yellow Sea, a position that clashes with US interests. Such a disagreement must be settled through discussions to ensure a mutually acceptable outcome.

Of course tensions between the two are about more than the naval drills. China has also argued against US access to its Exclusive Economic Zone in the South China Sea, while the United States for its part has refused to accept China’s understanding of the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).

But this issue could easily be settled by seeking an authoritative interpretation of UNCLOS through the International Court of Justice. Besides, China seems to have claimed most, if not the entire, South China Sea. All parties to the dispute, including China, should therefore abide by the Declaration on the Code of Conduct in the South China Sea signed in 2002 by China and all ASEAN members, which excludes the use—or threat of the use—of force.

The US cares about freedom of navigation in the region and apparently believes that sooner or later China will too. But there’s some heavy historical baggage to bear on this issue. China feels uncomfortable with a dominant US Navy in its backyard, especially in the context of Taiwan—it is, after all, the US that has threatened mainland China's free access to the waters around Taiwan. China, in contrast, has never taken action to deny others access to the entire South China Sea, in particular in areas beyond its EEZ.

And China's dispute over territorial waters with Vietnam and others? These could be resolved peacefully through established international institutions, particularly the UNCLOS. In the meantime, respective claims that are based on some sort of historical evidence of effective possession and development could be respected, as such arrangements aren’t automatically embodied in the international legal system.

To help everything along, Australia and other interested parties can encourage Beijing and Hanoi to settle their dispute through talks. By differentiating itself from the United States, which has been meddling directly in the South China Sea issue of late, Canberra will receive greater respect in the region. Indeed, Australian policymakers seem to understand the importance of bilateral talk to settle a bilateral dispute. Other stakeholders, meanwhile, could nurture more sensible interactions between China and its neighbours by encouraging, rather than lecturing, over these issues.

Beijing for its part should welcome help and shouldn’t think of itself as naïve for drawing on the assistance of others to assist it in resolving difficulties. Ultimately, though, it’s going to be up to Beijing and all interested parties—through sincerity, commitment to a friendly neighborhood and willingness to abide by international institutions—to settle the problem peacefully.

Of course as a sovereign state, China has the freedom to use force to defend its claims, as all other claimants do. But in signing the code of conduct with ASEAN it has indicated its intention, in principle, to refrain from doing so.

That said, and with this declaration in mind, China and relevant parties have to be prepared to yield some of their physical claims, something that won't be easy for any nation. Yet by honoring the code of conduct, Beijing and others will be acting in their own interests as well as those of regional stability. To this end, it could engage in both constructive bilateralism and multilateralism.

And China ought to be confident in seeing its territorial disputes become familiarized with the international community. Across East Asia, China has more leverage and influence than any other power, something which often makes competitors feel uncomfortable. This discomfort has prompted some to act in a way completely different to the Chinese approach—while China would prefer to pursue settlement of its various bilateral disputes through bilateral settings, other parties seek to internationalize these disputes, complicating the cases in an effort to secure benefits.

While Beijing is opposed to attempts to internationalize the issue, such efforts won’t necessarily hurt China, as they won’t necessarily help China’s competitors either.

When the use (and threat of) force is excluded—either through a declaration or an enforceable code—the only base for territorial claims is international judicial institutions and historical evidence. If these tenets are followed, it really won’t matter whether the platform is bilateral or multilateral.

(This article is an expanded and adapted version of an opinion piece that appeared in the Lowy Interpreter that can be found here.)

Professor Shen Dingli is Executive Dean of the Institute of International Studies, and Director of Center for American Studies, Fudan University, Shanghai.

http://the-diplomat.com/2010/08/26/solving...ina-sea-spat/2/
DanTriVN
Unwise to elevate "South China Sea" to be core interest ?
10:04, August 27, 2010

By Li Hongmei

The seemingly well-founded statement, that Beijing told the US officials that the South China Sea is a "core national interest," giving the area the same status as Taiwan and Tibet as a place China is prepared to fight over, is actually from quite a moot source. It was reportedly released by the American media which quoted some Chinese high-ranking official as saying that China has already elevated the issue of South China Sea to be part of its "core interests" in a closed-door meeting with his US counterpart.

But why the relevant US officials offer to unveil the information at the allegedly closed-door meeting to the media is really noteworthy. The move in itself betrays the US strategic intentions over the region---to fray the nerves of the Chinese neighbors and convert South China Sea into the arena on which the U.S. would, acting on the interests of some Southeast Asian countries, launch a proxy tussle with China, and would go further to internationalize the issue of South China Sea.

Sure enough, the claim of "core interest" set up a new torrent of the US-led clamor threatening to overwhelm the region and stir the world. "That really rattled the US and Southeast Asian nations," says Renato de Castro, who teaches international relations at De La Salle university in Manila. US Secretary of State Hillary Clinton responded last month, at an Asian security conference, by declaring a US "national interest in the South China Sea," which matched other recent US moves to remind China of Washington's intention to remain a "Pacific Power."

More over, some even acted overzealously by taking reference to China's diplomatic formula set by the late leader Deng Xiaoping, remarking Beijing's "core-interest claim" serves as further evidence of a daring departure from Deng's policy of "taoguangyanghui" toward international relations - meaning to keep a low profile when in an unfavorable position and wait patiently for opportunities to gain the upper hand.

And in the mean time, the current US naval exercises are just sending a message to the Southeast Asia, that the US remains a dominant presence in the region and that nobody can challenge them. The stepped-up American involvement is widely taken as pushback against the "increasingly assertive Chinese behavior."

Some Chinese military strategists and scholars, however, think the statement of "core interest" is in all likelihood a misinterpretation by the U.S, intentionally or not, and which still needs straightening out. Besides, it has so far yet to be traced to the exact source. In addition, they also believe incorporating the South China Sea into the package of China's core national interests is, at least currently, not a wise move.

First, the claim would upset and enrage the US, who has all along enjoyed preeminence and played hegemony over the region. The US, as a self-claimed "Pacific power", would spare no time in flaying China for its intention to carve out spheres of influence in East Asia, and thereby raise the stakes in deciding who the real future ruler of the region will be.

Then, the claim, as it were, could strike a nerve with China's neighboring countries, and the alertness to China's "naval ambitions" might ripple across the ocean to Australia, abutting the Southeast Asian countries.

Last but not the least, the claim is not in accordance with the international standard practice. By International Law, China has the indisputable sovereignty over the islands in South China Sea, the claim of "core interest", hence, is just like "drawing a snake and adding feet to it"---something superfluous, if it were true.

Currently, when the Sino-US wrestling match over South China Sea is unfolding, the claim could serve as nothing but a handle to facilitate the US to bring its carrier close to the Chinese home and make the regional issue international, as US has long coveted, considering that what the US seeks is not just a return to the region, but a bid to strengthen US leadership and its economic, military, and political presence in East Asia.

The articles in this column represent the author's views only. They do not represent opinions of People's Daily or People's Daily Online.

http://english.people.com.cn/90002/96417/7119874.html
DanTriVN
Nông dân Đồng Nai 'nhắm mắt' nhận bồi thường của Vedan

Hàng ngh́n nông dân huyện Long Thành - Đồng Nai sáng nay đă lần lượt đến các điểm để điền vào phiếu ư kiến có hay không kiện Vedan. Như dự đoán, đa số mọi người đồng ư chấp nhận gần 120 tỷ đồng tiền bồi thường của công ty này dù không biết bản thân sẽ nhận được bao nhiêu.

Từ 8h sáng, trong ngày đầu tiên phát phiếu lấy ư kiến, khu vực xă Phước Thái và Long Phước của huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai nhộn nhịp hẳn, từng tốp nông dân rủ nhau đến các điểm để nhận và đánh vào phiếu lấy ư kiến.

"Không nhận cũng không được", "kiện th́ biết chừng nào", "thôi, được nhiêu hay bấy nhiêu"... là những câu nói được người dân thốt ra khi tay vẫn phải điền vào ô: chấp nhận tiền bồi thường của Vedan.

"Giờ ở đây dân đồng ư hết rồi, ḿnh không đồng ư đâu có được, đa số thắng thiểu số mà, tôi đi nhận phiếu đánh dấu giùm cho cả chục nhà", ông Bùi Ngọc Truyền, nhà ở ấp 1C, xă Phước Thái, huyện Long Thành cho biết.

Tại địa điểm bỏ phiếu này, hầu hết mọi người đều chung ư kiến là chấp nhận tiền bồi thường của Vedan chứ không muốn kiện nữa dù c̣n không ít thắc mắc ḿnh sẽ nhận được bao nhiêu tiền. Nhiều người trong số đó đă nộp đơn lên ṭa.

Gần đó, địa điểm bỏ phiếu của 3 ấp: Hiền Ḥa, ấp 3 và Hiền Đức cũng tương tự. Đông đảo người dân tập trung từ rất sớm, ban tổ chức phải dùng loa để hướng dẫn mọi người. "Trước đây, tôi nộp đơn lên ṭa kiện đ̣i Vedan bồi thường 240 triệu đồng thiệt hại trong 10 năm đánh bắt nhưng giờ nhờ nhà nước tính toán giùm nên tôi tin tưởng chọn việc chấp nhận mức Vedan bồi thường", ông Mai Quang Chiến, một nông dân nói.

Tuy nhiên, vẫn có những người khẳng định quan điểm của ḿnh khi không chấp nhận mức bồi thường của Vedan. "Tôi không biết được ḿnh sẽ có bao nhiêu tiền bồi thường trong số gần 120 tỷ đồng của Vedan nên tôi vẫn kiện. Con số tôi kiện lên ṭa đ̣i bồi thường là khoảng 3 tỷ đồng trong 10 năm nuôi tôm", bà Nguyễn Thị Lệ Hoa ở ấp Phước Ḥa, xă Long Phước huyện Long Thành nói chắc.

Thống kê của cơ quan chức năng huyện Long Thành, đến cuối ngày, xă Long Phước đă thu lại 522 phiếu của nông dân, trong đó chỉ có 3 phiếu không đồng ư nhận tiền bồi thường của Vedan. Xă Phước Thái thu về tổng cộng 1.567 phiếu, có 2 phiếu không đồng ư nhận tiền bồi thường và 29 phiếu chấp nhận tiền bồi thường nhưng không đồng ư rút đơn đă nộp lên ṭa. Huyện Nhơn Trạch ngày mai bắt đầu phát phiếu lấy ư kiến cho người dân.

Hiện tỉnh Đồng Nai có khoảng gần 5.000 hộ bị ảnh hưởng của 4 xă Long Thọ, Phước An (huyện Nhơn Trạch), Long Phước, Phước Thái (huyện Long Thành) trong vụ Vedan. Trong khi đó, đă có hơn 3.000 đơn được người dân nộp lên toà án kiện công ty này.

Ngày 16/8, lănh đạo UBND tỉnh Đồng Nai đă quyết định sẽ lấy ư kiến người dân về việc có kiện công ty này hay nhận tiền bồi thường. Ngày 20/8, Sở Tài nguyên Môi trường và Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn cùng các huyện, xă bị thiệt hại trong vụ Vedan họp nhằm đến mục đích: T́m cách nói sao cho người dân chấp nhận mức đền bù 120 tỷ đồng.

http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/08/3BA1FBFF/

DanTriVN
Nhiều mặt hàng tăng giá trước thềm tháng khuyến măi

Hàng loạt mặt hàng rủ nhau tăng giá, dù TP HCM sắp vào tháng khuyến măi lớn nhất trong năm sẽ diễn ra vào đầu tháng 9 và chương tŕnh b́nh ổn giá vẫn đang được duy tŕ.

Ở kênh chợ truyền thống, những mặt hàng như: gas, dầu ăn, gạo, đường.. đă tăng giá từ nửa tháng nay, khiến bà nội trợ đau đầu với bài toán chi phí hàng ngày.

Các loại gạo, nếp nhích lên 500-2.000 đồng mỗi kg, trong đó, gạo ngang tăng mạnh nhất. Bán gạo tại chợ Thị Nghè, quận B́nh Thạnh, bà Tâm than thở: "Gạo ngon tuy chỉ lên vài trăm đồng, nhưng cũng rất khó bán. Người mua so kè giá từng loại, thậm chí dùng hẳn loại khác và cũng không mua một lần cả chục kg như trước".

Dịch heo tai xanh lan rộng khắp các địa phương là một trong những nguyên nhân khiến sức tiêu thụ thủy hải sản, thịt gà, ḅ tăng lên. Hiện tất cả các loại cá đều điều chỉnh giá, thấp nhất 1.000-3.000, có loại vượt tháng trước gần chục ngh́n đồng. Cá thu nguyên con ở mức 80.000 đồng một kg, con to trên 90.000 đồng. Cá nục, hường, vượt 30.000 đồng một kg, trong khi nửa tháng trước chỉ xấp xỉ 23.000-27.000 đồng. Thịt ḅ thăn cũng lên nhẹ, hiện các chợ chào giá 140.000 đồng mỗi kg.

Trứng gia cầm (gà, vịt) lên 1.000 đồng một chục, từ cả tuần nay. Giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng là 20.000-21.000 đồng. Song, theo các tiểu thương, do đang là tháng ăn chay lớn trong năm, nên sức mua mặt hàng này giảm đáng kể so với trước đó.

Dầu ăn các loại sau áp giá mới đă cao hơn đầu tháng 1.000-2.000 đồng (27.000-31.000 đồng), trong khi giá áp dụng đến hết năm ở các điểm bán hàng b́nh ổn chỉ 24.500-25.600 đồng. Đường bán lẻ cũng tăng lên 19.000-20.000 đồng, thay v́ phổ biến mức 18.000 đồng. Hiện đường túi Biên Ḥa, đường kem Bến Tre đều 21.000 đồng một kg, đắt hơn 3.000 đồng so với giá bán của các doanh nghiệp tham gia b́nh ổn năm 2010 và Tết Tân Măo 2011.

Giá nhiều nguyên liệu thay đổi và tăng cao so với cùng kỳ, là nguyên nhân khiến chiếc bánh trung thu đến tay người tiêu dùng năm nay đắt hơn năm ngoái ít nhất 10%. Các đơn vị kinh doanh c̣n "dọa" phải tăng 25-30% mới tương thích với sự leo thang của hàng loạt mặt hàng.

Giám đốc kênh phân phối siêu thị phía Nam, Công ty TNHH dầu thực vật Cái Lân Tô Nguyễn Thanh Phong cho biết: "Doanh nghiệp đă có kế hoạch tăng giá từ cuối tháng 7 v́ nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới tăng lên". Nhiều nước châu Á trong đó có Trung Quốc gom nguyên liệu sản xuất dầu ăn để làm bánh trung thu, khiến nguyên liệu sản xuất khan hiếm và tăng giá. Cộng thêm biến động về tỷ giá đồng USD, nên việc tăng giá hàng hoá, theo ông Phong chỉ là sớm hay muộn.

Thế nhưng, do có thể cầm cự sử dụng nguồn nguyên liệu dự trữ nên đến tháng 8 công ty mới chính thức tăng giá dầu ăn ở các chợ. Tuy nhiên, ở một số hệ thống siêu thị, giá không đổi, do doanh nghiệp đă đăng kư tham gia tháng bán hàng khuyến măi, b́nh ổn giá, để hỗ trợ người tiêu dùng mua sắm trong tháng 9.

Chưa thể khẳng định có tăng giá dầu ăn tiếp tục trong thời gian tới, bởi "Tất cả tuỳ thuộc vào lượng nguyên liệu đầu vào dự trữ c̣n nhiều hay ít. Nếu nguyên liệu đă hết th́ việc tăng giá là khó tránh khỏi", ông Phong chia sẻ.

Trong khi đó, nhiều ngày qua, các siêu thị cũng nhận được yêu cầu đề nghị tăng giá của nhiều nhà sản xuất.

Theo lănh đạo siêu thị Citimart, một số nhà cung cấp đề nghị giá hàng hóa tăng 5-8% từ vài tháng nay. Trong đó, thức uống, nước giải khát tăng 10%, hàng may mặc lên 5%, sữa 6-8%, nhựa gia dụng tăng khoảng 7%.

Tổng giám đốc Liên hiệp hợp tác xă thương mại TP HCM (Saigon Co.op) Nguyễn Thị Hạnh cho biết một số nhà sản xuất, phân phối các ngành hàng may mặc, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đ́nh đề nghị tăng giá. Tuy nhiên, Saigon Co.op sẽ cân nhắc và xem xét lại toàn bộ hợp đồng đă kư cũng như t́nh h́nh thực tế của thị trường mới tính đến chuyện chấp thuận hay từ chối.

Bà Hạnh cho hay, nhóm hàng gia dụng có nguồn gốc nhập khẩu, hàng may mặc có nguồn nguyên liệu nhập, ngành nhựa, hàng gia dụng cũng khó tránh khỏi cơn băo tăng giá trong thời gian tới. Bởi tuy hàng hoá "made in Việt Nam" nhưng đầu vào đều phải nhập, nên các nhà sản xuất gặp không ít khó khăn. Đây cũng là điểm yếu mà các doanh nghiệp trong nước cần khắc phục để tránh t́nh trạng bị sức ép quá lớn khi nguồn nguyên liệu đầu vào khan hiếm hoặc tăng cao.

Lănh đạo Saigon Co.op cho hay, thời gian tối thiểu để phản hồi với các nhà phân phối về đề nghị tăng giá là một tháng v́ nếu sự điều chỉnh giá chậm trễ th́ bản thân nhà sản xuất hàng hóa cũng rút lui.

"Thuận lợi của Saigon Co.op chính là có sự chuẩn bị, dự trữ và b́nh ổn giá tốt nên tạm thời giá cả hàng hoá tại siêu thị vẫn ổn định không có sự điều chỉnh", bà Hạnh nói.

http://www.vnexpress.net/GL/Doi-song/Mua-s...10/08/3BA1FBB2/
DanTriVN
Held up Vietnam rail plan still counts on Japan
Parliament delays project over ¥5 trillion cost but feasibility studies to start on two sections

By MAYA KANEKO
Kyodo News

HANOI — Although a plan to build a north-south high-speed railway connecting Hanoi and Ho Chi Minh City in Vietnam has hit a snag following an unusual move by the communist state's legislature not to approve it for further study, the head of the railway is calling for continued support from Japan.

Nguyen Huu Bang, chairman and chief executive officer of Vietnam Railways Corp., said in a recent interview that he expects the Japan International Cooperation Agency to start feasibility studies on two specific high-speed railway sections in the near future to lay the groundwork for the project.

Vietnam has expressed its intention to adopt the shinkansen system for its ¥5 trillion project to build a 1,600-km high-speed railway linking the two cities in as little as 5 1/2 hours.

JICA has conducted a preliminary study as part of a comprehensive survey of Vietnam's overall transport system and says the railway will be economically feasible on condition that it opens in or after 2036 and urban development along the line accelerates, boosting an inflow in the population.

Although the project failed to gain majority support in the legislature in June, Bang said the government is expected to resubmit it after new leaders of the Communist Party are selected next year.

No official announcement was made by the legislature, but Vietnamese national assembly members reportedly were concerned about fiscal sustainability if the project is carried out, as its estimated costs amount to about two-thirds of the nation's gross domestic product.

The Communist Party of Vietnam is set to hold its national party congress, held every five years, in January to select new leaders. The high-speed railway is one of the priority projects being strongly pushed by Premier Nguyen Tan Dung.

Bang said he is not discouraged by the legislature's request for "more details" of the project and that he expects JICA to closely examine the feasibility of two priority railway sections — a 295-km section in the north from Hanoi to Vinh and a 362-km section in the south from Ho Chi Minh City to Nha Trang.

He said operations of the two sections can start earlier than the opening of the entire north-south line in or after 2036.

JICA's feasibility study will provide basic information to Tokyo in making a decision on whether to extend yen loans for the project.

The head of the railway said Vietnam wants to introduce Japanese technology because it intends to adopt the so-called electric multiple unit style, which has been increasingly used for high-speed rail systems around the world.

Shuji Eguchi, director of the international affairs office at the transport ministry's railway bureau, said Vietnam "highly evaluates" the safety and punctuality of the shinkansen system. Since the launch of its services in 1964, no accidents involving casualties have occurred.

Eguchi said, however, the government has not yet officially decided on the start of JICA's feasibility study as Tokyo believes it should not hurry over the railway project, which will be a long-term process.

Although the government has recently put a focus on exporting its infrastructure systems, including the shinkansen, to spur its own economic growth, the official of the Land, Transport, Infrastructure and Tourism Ministry said Japan is "not pushing itself" with regard to the Vietnam project.

"We need a step-by-step approach. The conventional Vietnamese railway is single track and not electrified yet," he said. "To jump from that stage to the shinkansen, Vietnam needs to train personnel and enact necessary legislation."

The acquisition of the right of way will also be hard work, he added. A new railway must be built separately from the existing line for exclusive use by high-speed trains.

Eguchi said Vietnamese people should first get used to "the railway culture" after the introduction of planned urban train systems in its two major cities in the foreseeable future. At present, Hanoi and Ho Chi Minh City citizens usually get around by motorcycle.

Toshio Nagase, senior representative of JICA's Vietnam office in Hanoi, said not many people currently use railway services for long-distance trips in Vietnam, but he believes there is considerable demand for speedy trains.

It is considered dangerous to travel by long-distance bus due to bad road conditions on expressways and few people have their own cars, he said. Frequent travelers fly between Hanoi and Ho Chi Minh City because it takes more than 30 hours to travel by the existing train service.

http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/nn20100828f2.html
DanTriVN
Đừng nhắm mắt nói bừa!

Đài BBC đêm 23/8 vừa qua cho biết, trong một bài đăng trên tờ Nhân dân nhật báo (Trung Quốc) ra ngày 17/8, Lư Hồng Mai đă "khuyên" Việt Nam "không nên đùa với lửa". Tác giả của lời khuyên ngạo mạn nói trên, theo BBC, là một "biên tập viên kỳ cựu".

Theo trích thuật của BBC, Lư Hồng Mai nói rằng trong khi quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đang trải qua một giai đoạn khó khăn mới, "các quyết định thiếu khôn ngoan của Việt Nam sẽ chỉ làm căng thẳng gia tăng".

Cái "giai đoạn khó khăn mới" trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ mà Lư Hồng Mai đề cập trong bài báo là để ám chỉ sự căng thẳng giữa hai cường quốc này khi Bắc Kinh phản ứng trước một số động thái gần đây của Washington mà họ cho là nhằm vào Trung Quốc, từ việc Mỹ nghiêng hẳn về phía Hàn Quốc trong vụ cáo buộc CHDCND Triều Tiên đánh đắm chiến hạm Cheonan đến cuộc tập trận Mỹ - Hàn trên biển Nhật Bản, và nhất là việc Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố Mỹ có "lợi ích quốc gia" trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tự do hàng hải trên biển Đông; tiếp đó, tàu sân bay USS George Washington trên đường hàng hải quốc tế đă bỏ neo cách Đà Nẵng gần 200 hải lư, trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, rồi tàu hộ tống USS John S. McCain thăm cảng Đà Nẵng...

Lư Hồng Mai c̣n viết bừa rằng "có lẽ Việt Nam cần nhận thức rằng bị kẹt giữa hai cường quốc là một tṛ chơi nguy hiểm... Nếu cứ tiếp tục khích động các nước lớn đối chọi nhau th́ không ai khác ngoài Việt Nam sẽ phải hối hận trước", và rằng “giới quan sát quốc tế đang có chung quan điểm Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung - Việt tại biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc".

Té ra b́nh luận viên "giống cái" này động ḷng trước tiến triển của quan hệ Việt - Mỹ gần đây. Chỉ có điều, những nhận định của bà ta là hồ đồ, hoàn toàn vô căn cứ, tức là nhắm mắt nói bừa.

Dư luận đều rơ là tại một diễn đàn đa phương như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được tổ chức tại Hà Nội hồi hạ tuần tháng 7 vừa rồi, các bên tham dự đều có quyền phát biểu, bày tỏ quan điểm của ḿnh đối với những vấn đề liên quan đến an ninh khu vực mà họ quan tâm. Chuyện bà Hillary Clinton tuyên bố tại diễn đàn này rằng Mỹ "có lợi ích quốc gia" trong việc bảo đảm tự do hàng hải trên biển Đông cũng vậy. Tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton là xuất phát từ chủ trương của chính quyền Mỹ, thể hiện quan điểm của họ, chứ nguyên cớ đâu phải là v́ "Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung - Việt tại biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc" mà bà Lư mượn danh "giới quan sát quốc tế" để "gắp lửa bỏ vào tay” Việt Nam.

Cũng cần nói thêm rằng tranh chấp tại biển Đông là chuyện xảy ra giữa nhiều nước chứ không phải là "tranh chấp Trung - Việt" như lời bà Lư viết, c̣n việc giải quyết những tranh chấp giữa nhiều quốc gia ấy trên cơ sở song phương hay đa phương là đ̣i hỏi của thực tế khách quan mà không một quốc gia nào có thể áp đặt ư muốn chủ quan của ḿnh.

Sự kiện tàu sân bay USS George Washington bỏ neo ngoài khơi Đà Nẵng và tàu hộ tống USS John S. McCain thăm cảng Đà Nẵng hồi đầu tháng 8 này cũng không phải là do Việt Nam "muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc" như lời tố điêu của bà Lư.

Trả lời phỏng vấn báo Quân đội Nhân dân (QĐND) ngày 14/8 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc pḥng Việt Nam, đă nêu rơ: "Từ đầu năm nay, Mỹ bày tỏ mong muốn cử một đoàn tàu quân sự vào thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chúng ta chấp thuận ư kiến này".

Trung tá Jeffrey Kim, Chỉ huy tàu USS John S.McCain, khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (TNHK), cũng nói rơ: "Chúng tôi tới đây (Đà Nẵng) nhân dịp đánh dấu 15 năm b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao Mỹ - Việt". Về việc một số hăng đưa tin rằng thủy thủ tàu USS John S.McCain tham gia diễn tập hải quân với phía Việt Nam, Trung tá Jeffrey Kim cho rằng việc miêu tả như vậy là "không đúng với bản chất những ǵ chúng tôi thực hiện ở đây".

Ông giải thích: "Đó không phải là các cuộc diễn tập hải quân, mà là các cuộc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức cũng như các bí quyết liên quan tới các chủ đề như t́m kiếm, cứu nạn hay kiểm soát thiệt hại, như làm sao để ngăn chặn ngập nước hay dập lửa trên tàu", và nhấn mạnh: "Các hoạt động chúng tôi thực hiện ở đây cho tới nay là phi tác chiến về bản chất" (TNHK đêm 12/8/2010).

C̣n về chuyện tàu sân bay USS George Washington, nhân dịp đi trên đường hàng hải quốc tế cách Đà Nẵng gần 200 hải lư, trong vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam, mời đoàn đại biểu thành phố Đà Nẵng và các đơn vị quân đội đóng quân ở địa phương ra thăm tàu, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc pḥng Nguyễn Chí Vịnh cho biết: "Đây là hoạt động theo thông lệ của phía Mỹ, mỗi lần đi qua vùng biển gần các quốc gia có liên quan, phía Mỹ thường mời đoàn đại biểu các nước đó thăm tàu để bày tỏ thiện chí, và cũng là dịp để họ phô diễn các kỹ thuật quân sự tiên tiến. Nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan và một số nước ASEAN khác đă cử các đoàn đại biểu thăm tàu ở cấp độ khác nhau...".

Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu rơ rằng Việt Nam đă có quan hệ hải quân tốt đẹp với nhiều nước láng giềng như Trung Quốc, Campuchia, Philippines, Singapore, Thái Lan..., đồng thời nhấn mạnh rằng "phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại quốc pḥng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước", và rằng "quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đă được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lănh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đă cam kết" (QĐND 14/8/2010).

Rơ ràng là bà Lư đă nhắm mắt trước thực tế nói trên.

Nhân đây, cũng xin lưu ư rằng thời gian qua, không ít nhà nghiên cứu, tướng lĩnh và báo chí của Trung Quốc đă có những nhận định, b́nh luận không đúng về các sự kiện kể trên, với những lời lẽ rất thiếu thiện chí (nếu không nói là thù địch) đối với Việt Nam, làm cho dư luận, nhất là dư luận Trung Quốc, hiểu sai bản chất của các sự kiện đó, dẫn đến hiểu sai về Việt Nam, làm tổn hại t́nh cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đài BBC nhận xét rằng mặc dù tờ Nhân dân nhật báo viết đây chỉ là ư kiến riêng của tác giả, chứ không phải của bản báo, việc bài của Lư Hồng Mai được đăng trên Nhân dân nhật báo cho thấy "tầm quan trọng của quan điểm" mà gần đây nhiều nhà quan sát và học giả Trung Quốc cùng chia sẻ.

Nhân dân nhật báo là tờ báo chính thức của Trung Quốc.

Cứ cho bài viết trên Nhân dân nhật báo của bà Lư là thể hiện ư kiến riêng của bà ta, như lời thanh minh của bản báo, th́ người ta vẫn hiểu rằng nếu "ư kiến riêng" đó không phù hợp với quan điểm của Nhân dân nhật báo th́ có "các vàng", tờ báo này cũng không đăng.

Cá nhân tác giả Lư Hồng Mai có thể nhầm lẫn; một tờ báo chính thức của Trung Quốc lẽ nào lại như thế?

Thật tiếc!

http://www.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=136105
DanTriVN
Bộ CA kiểm tra việc đảm bảo an ninh-trật tự Tây Nguyên
29/08/2010 16:33:35

Trong các ngày 27 - 28/8, Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an đă có chuyến công tác kiểm tra đảm bảo an ninh-trật tự tại Đăk Lăk, Gia Lai và thăm Trung đoàn Cảnh sát cơ động miền Trung và Tây Nguyên tại huyện Krong Buk, tỉnh Gia Lai.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Vượng, Tư lệnh Cảnh sát cơ động; Thiếu tướng Huỳnh Huề, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk; Đại tá Trần Đ́nh Thu, Giám đốc Công an tỉnh Gia Lai và lănh đạo Cục An ninh Tây Nguyên cũng tham gia chuyến công tác này.

Thứ trưởng Trần Đại Quang lưu ư cán bộ, chiến sỹ Công an tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Trung đoàn Cảnh sát cơ động miền Trung và Tây Nguyên và Cục An ninh Tây Nguyên tiếp tục rèn luyện, nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao; không để kẻ địch và các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc lừa mị, kích động biểu t́nh, gây rối an ninh-trật tự.

Thứ trưởng Trần Đại Quang yêu cầu các đơn vị tập trung lực lượng triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ thực hiện có hiệu quả các phương án, kế hoạch công tác đă đề ra, trước mắt bảo vệ tuyệt đối an toàn Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; tiếp nhận và quản lư tốt số phạm nhân được đặc xá dịp Quốc khánh 2/9; tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lư nhà nước về an ninh-trật tự, nhất là trên lĩnh vực an ninh dân tộc, an ninh tôn giáo, an ninh thông tin...

Ngoài ra, các đơn vị đẩy mạnh phối hợp với Bộ đội Biên pḥng, chính quyền và các cơ quan chức năng của Campuchia đảm bảo an ninh biên giới, phục vụ triển khai kế hoạch phân giới cắm mốc của Chính phủ hai nước Việt Nam và Campuchia, góp phần xây dựng tuyến biên giới ḥa b́nh, hữu nghị, hợp tác và phát triển...

(Theo Chinhphu.vn)

http://bee.net.vn/channel/1983/201008/Lanh...Nguyen-1765664/
DanTriVN
Vietnam's thirst for beer hard to quench

By Ian Timberlake (AFP) – 23 hours ago

DANANG, Vietnam — Vietnam's thirst for beer is hard to quench, and a new production line with a capacity for 50,000 bottles an hour is the latest industry attempt to target one of the region's key markets.

VBL Danang Ltd opened the line producing Larue beer at its factory in central Vietnam on Friday.

The brew with a tiger on its label is a down-to-earth favourite in the seaside city of Danang.

"Vietnam... is one of the largest beer markets in Asia Pacific and of the highest growth potential," Christopher Kidd, regional director of Singapore-listed Asia Pacific Breweries Ltd (APB), said in remarks prepared for the opening ceremony.

APB and Vietnamese state-owned SATRA Group comprise the VBL joint venture.

VBL said the expansion, "to meet robust and surging beer demand", will double bottling capacity and is the latest upgrade since it bought the brewery from Australia's Foster's three years ago.

At the ceremony, Singapore's Minister for Trade and Industry, Lim Hng Kiang, said Larue is now available in most of Vietnam's provinces and showed healthy volume growth of 25 percent last year and 50 percent this year.

Along with the Danang brewery, VBL manages and operates three others in central and southern Vietnam. A wholly-owned unit supplies Tiger beer, Heineken and other brands in the country's north.

"Over the next 18 months, APB through its joint ventures and subsidiary, plans to invest close to 100 million dollars in capacity expansion in our various breweries in Vietnam," Kidd said.

He said APB was one of the first foreign-invested firms to enter Vietnam after the communist country began to adopt a policy of economic openness 24 years ago.

Other beer firms have kept coming.

In Danang, stubby bottles of the Philippines-based beer San Miguel sat on wooden tables at a roadside restaurant, hoping to tempt drinkers away from Larue or other labels.

The US brand Budweiser, among others, has moved into Vietnam, and Japanese brewer Sapporo Holdings said in December that it will enter the country from early 2012 in a joint venture with Vietnam National Tobacco Corp.

Sapporo said it will be the first Japanese brewery to build a production and marketing base in the "promising Vietnamese market which has been growing at an annual rate of more than 10 percent".

In a report last year, Spiros Malandrakis, an analyst with global market research firm Euromonitor International, said Vietnam's integration into the World Trade Organization opened up more opportunities for investment and imports from foreign companies, particularly with the government's commitment to slash tax on imported beer.

However, Malandrakis said Vietnam's domestic "economy lager" generated the strongest yearly sales increase, 10 percent in 2008.

The brewers are trying to capitalise on a beer market which Euromonitor International forecasts will continue to be one of the region's largest and fastest-growing.

Total beer sales volume at Vietnamese cafes, restaurants and other outlets grew 56 percent between 2004 and 2009 to 1.6 billion litres, the second-fastest growth rate in Southeast Asia after Cambodia.

Euromonitor International sees continued expansion of the Vietnam beer market, at 8.9 percent for 2009-10 and 5.6 percent growth by 2013-14, slightly behind Laos and Cambodia.

Vietnam's leading brewer is Saigon Beer, Alcohol and Beverage Corp (SABECO), which had up to 35 percent of national beer sales and was increasing its production, the official Vietnam News Agency reported last year.

It said Hanoi Beer, Alcohol and Beverage Corp (HABECO) had a 15 percent market share.

Earlier this month HABECO inaugurated its new Hanoi-Me Linh brewery built with an investment of more than 100 million dollars, Vietnam News Agency said.

HABECO bottles Hanoi Beer and is a major producer of the draft brew known as "bia hoi". The draft is dropped off every day at Hanoi's ubiquitous sidewalk bars which are little more than plastic chairs and a metal tank of the beer.

"In my opinion, bia hoi is the best drink," said Nguyen Duc Trung, 42, citing its relatively low alcohol content and thirst-quenching abilities in Hanoi's heat.

"I drink bia hoi every day and that's become my habit."

http://www.google.com/hostednews/afp/artic...aKmoS50zlPPQQOw
DanTriVN
A very long but good article to read:

Cựu Bộ trưởng Tư pháp bàn về Dân chủ và Pháp quyền
Tác giả: Tuần Việt Nam
Bài đă được xuất bản.: 30/08/2010 06:00 GMT+7


"Nói dân trí chưa cao nên chưa thực hiện dân chủ là hạn chế quyền làm chủ của dân"- Cựu bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đ́nh Lộc nói.

LTS: Ngày 24/8, Tuần Việt Nam tổ chức bàn tṛn 65 năm Việt Nam - lộ tŕnh nào đi tới phồn vinh, như một dịp để chiêm nghiệm về những bước đi của Đất nước - Dân tộc trên con đường hiện thực hóa những tư tưởng và mục tiêu cao đẹp về một Việt Nam Dân chủ - Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà Bác Hồ đă long trọng tuyên bố trước muôn triệu người dân cũng như bạn bè thế giới sáu mươi lăm năm về trước.

Tại bàn tṛn này, TS Nguyễn Đ́nh Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp (1992 - 2002), nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XI (2002 - 2007) đă chia sẻ nhiều ư kiến thẳng thắn. Nhận ḿnh là người sinh ra trong ḷng chế độ, gắn bó máu thịt với chế độ này, ông Nguyễn Đ́nh Lộc mong muốn thông qua bàn tṛn, bày tỏ những suy nghĩ, góc nh́n của riêng ông, như những góp ư từ một người trong cuộc trước thềm Đại hội Đảng, với nguyện vọng để Đảng ngày càng được dân tin cậy, để những giá trị cao đẹp của Độc lập - Dân chủ - Tự do thực sự đi vào cuộc sống như di nguyện của Bác.

Như ông Nguyễn Đ́nh Lộc nhiều lần nhấn mạnh, những góc nh́n của ông có thể đôi chỗ "khó nghe" hoặc cần phải tranh luận thêm, nhưng ông cũng mạnh dạn đưa ra, như một sự xới xáo vấn đề một cách nghiêm túc, trên tinh thần nh́n thẳng vào sự thật, nói sự thật, tôn trọng những ư kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi.

Tuần Việt Nam giới thiệu toàn văn bàn tṛn với ông Nguyễn Đ́nh Lộc như một góc nh́n cần tham khảo. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thưa các bạn, c̣n ít ngày nữa, chúng ta kỉ niệm 65 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. 65 năm qua là một chặng đường dài, từ một đất nước thuộc địa nô lệ, chúng ta trở thành người làm chủ. Việt Nam đă dần xác lập được vị trí trên bản đồ thế giới, với bạn bè thế giới.

Những ngày này, mỗi người Việt Nam chúng ta thường bồi hồi nhớ về chặng đường đă qua, và nghĩ tới tương lai của dân tộc, nghĩ đến những ǵ c̣n trăn trở, c̣n phải làm tốt hơn để tương lai Việt Nam đạt được những di nguyện của Bác Hồ: xây dựng một nước Việt Nam ḥa b́nh thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Trong đó, ḥa b́nh thống nhất chúng ta đă làm được, c̣n dân chủ giàu mạnh vẫn đang phải tiếp tục phấn đấu.

Xin trân trọng giới thiệu và cám ơn sự có mặt của ông Nguyễn Đ́nh Lộc - nguyên Bộ trưởng Tư pháp, nguyên đại biểu Quốc hội. Nhà văn hóa Vương Trí Nhàn, thật đáng tiếc đă không có mặt tại buổi trực tuyến hôm nay do điều kiện sức khỏe. Xin trân trọng cám ơn bạn đọc đă gửi nhiều câu hỏi đến bàn tṛn trực tuyến.

Thưa ông Nguyễn Đ́nh Lộc, là một cựu lănh đạo với vị trí đứng đầu một Bộ quan trọng- xây dựng hệ thống là Bộ Tư pháp, ông có những cảm nhận ǵ, những trăn trở ǵ khi nghĩ đến mùng 2/9 năm nay?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Ngày mùng 2/9 chúng ta gọi là ngày Quốc Khánh, ngày ra đời của chế độ chúng ta. Với chúng ta đó là một ngày rất đáng ghi nhớ. Hơn nữa, ngày Quốc Khánh năm nay chúng ta tổ chức chào đón nó trong điều kiện thủ đô Hà Nội cũng như cả nước tiến tới 1000 năm Thăng Long.

Kỉ niệm ngày Quốc Khánh là dịp đặc biệt để cùng nh́n lại cả chặng đường phát triển. Không chỉ ôn lại 65 năm của chế độ chúng ta mà đây cũng là dịp để cùng nhau nh́n lại một ngàn năm qua xă hội Việt Nam đă đi như thế nào.

Điều rất đáng mừng là vào ngày 2/9 65 năm trước, đánh dấu một bước ngoặt cho sự phát triển của cả dân tộc. V́ trước đó như mọi người đă biết, đất nước là thuộc địa, là nô lệ của những cường quốc Pháp và Nhật. Cuộc sống của người dân thuộc địa như thế nào bản thân mỗi người cũng đă thấm thía. Đó là một xă hội, mà nói một cách ngắn gọn nhất là phi dân chủ, vi phạm quyền con người, ở đó quyền cơ bản của con người bị chà đạp.

Bởi vậy, ngày mùng 2/9/1945 với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập một nhà nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa đă mở ra một giai đoạn phát triển mới. Đó là một thay đổi lớn lao mà chúng tôi hay gọi là Đổi đời của cả dân tộc, đổi đời cho từng cá nhân con người. Chúng ta, từ một kiếp nô lệ, bị lệ thuộc đă trở thành người tự do, người dân chủ, một đất nước được hưởng quyền làm chủ của ḿnh.

Bởi vậy tôi nghĩ, không riêng ai mà cả dân tộc đang vui mừng chờ đón ngày mùng 2/9 năm nay cũng như ngày mùng 10/10 và Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long.

"Nói dân trí chưa cao nên chưa thực hiện dân chủ là hạn chế quyền làm chủ của dân"

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn
: Có lẽ, một trong những mục tiêu đă khiến cả dân tộc ta đứng lên giành độc lập, và đó cũng là di nguyện của Bác Hồ là xây dựng một đất nước Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, một đất nước dân chủ, theo thể chế dân chủ. Theo ông, trong thời gian vừa qua, chúng ta đă hiểu như thế nào về mục tiêu dân chủ và đă thực thi nó như thế nào?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Nói một cách ngắn gọn dân chủ là người dân làm chủ xă hội. Và, nói người dân ở đây là phải hiểu cả dân tộc, cả đất nước làm chủ chứ không phải một cá nhân nào đó. Nhưng khi nói đến dân chủ th́ chúng ta phải nh́n từng cá nhân để làm thế nào thấy rơ rằng từng con người một chứ không phải chỉ có cộng đồng dân tộc nói chung được hưởng những quyền tự do, dân chủ.

Hưởng dân chủ, thực hiện dân chủ, bảo đảm người dân thực hiện dân chủ là một vấn đề hoàn toàn không dễ dàng. V́ ở đây đ̣i hỏi cả một cơ chế, tập quán thói quen, truyền thống và trước hết là nhận thức sâu xa thế nào là dân chủ. Điều làm chúng ta phải suy nghĩ là nhiều khi bản thân chúng ta, những người trong cuộc cũng ngại dân chủ.

Chúng ta nhớ rằng đă có những lúc chúng ta đă không dám nói đến dân chủ. Đă có lúc chúng ta ngại động chạm đến chữ đó, ngại đến mức trở thành ra một quán tính, "không dám" đưa chữ dân chủ vào mệnh đề chung của mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng dân chủ văn minh. Từ dân chủ mới được đưa vào mệnh đề này mươi năm nay thôi.

Ngay mệnh đề nhà nước pháp quyền cũng thế. Một nhà nước pháp quyền không thể là pháp quyền nếu như nó không thực hiện chế độ dân chủ, nhưng từ pháp quyền cũng đă có lúc chúng ta ngại đề cập tới. Hồi năm 2001, nếu dùng là một cuộc đấu tranh e nói thế hơi mạnh, nhưng chính xác đă có một cuộc tranh luận, một trao đổi rất kĩ, cuối cùng Quốc hội mới biểu quyết để thông qua quy định, nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền, xă hội chủ nghĩa của dân do dân và v́ dân. Đến lúc đó chúng ta mới dám nói được quyền lực thống nhất có sự phân công phối hợp.

Như thế, rơ ràng nhận thức về dân chủ là một quá tŕnh và thực hiện dân chủ lại càng khó hơn, và cũng là một quá tŕnh. Không ai có thể tự nói rằng ḿnh đă nhận thức đầy đủ, có một quan niệm rơ ràng về dân chủ. Ngay văn kiện của Đảng cũng phải từng bước một, cả Hiến pháp cũng vậy.

Măi đến Hiến pháp thứ tư (Hiến pháp 92), chúng ta mới đưa được chữ nhà nước pháp quyền vào. Cụm từ này hoàn toàn chưa có trong các Hiến pháp trước đó. Hiến pháp 46 được đánh giá có những ưu điểm vượt trội, nhưng chữ pháp quyền vẫn chưa được dùng. Hiến pháp 59 và Hiến pháp 80 cũng không đề cập tới. Măi tới năm 2001 với nghị quyết 51 của Quốc hội th́ chúng ta mới bổ sung vào Điều 2: Nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền.

Không nên hiểu một cách phiến diện, một chiều chữ dân chủ. Dân chủ có hai mặt của nó. Lạm dụng dân chủ cũng là một tiêu cực, một tai hại đối với xă hội. Th́ khi nói thực hiện dân chủ phải nh́n từ hai phía: Từ phía người có trách nhiệm thực hiện nó đó là bộ máy nhà nước, hai là với người dân hưởng quyền dân chủ cũng phải đúng nghĩa của nó chứ không phải một cách tràn lan. Và điều này không đơn thuần chỉ là mong muốn mà c̣n cả vấn đề nhận thức và có cơ chế để thực hiện. V́ vậy tôi hiểu rằng thực hiện dân chủ là một quá tŕnh và từng bước một.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Chúng tôi vừa nhận được câu hỏi của bạn Nguyễn Phúc Nguyên là một học viên của trường Sĩ quan quân đội: "Mọi người thường nói nhân dân ta c̣n rất yếu kém về mặt nhận thức, tŕnh độ dân trí thấp do đó dân chủ lúc này không phù hợp, phải từng bước, nhích dần từng bước. C̣n nếu mà áp dụng dân chủ lúc này là không tốt cho đất nước ta. Ông chia sẻ với bạn Phúc Nguyên như thế nào?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Băn khoăn của bạn Nguyên cũng có cơ sở. Nhưng nói như thế cũng không có nghĩa là bây giờ chúng ta chưa nên dân chủ. V́ nói dân chủ cũng là một quá tŕnh. Và cũng không nên ngại rằng nhân dân không biết sử dụng dân chủ.

Sau Cách mạng tháng Tám, 80-90% dân chúng vừa không biết chữ, mù chữ vừa là kiếp nô lệ, nên trước khi tiến hành tổng tuyển cứ, có nhiều người lo rằng với tŕnh độ người dân vừa ra khỏi nô lệ như thế th́ có nên tổng tuyển cử không. Nhưng Bác Hồ đă có niềm tin rằng nhân dân biết sử dụng quyền đó, và trên thực tế chúng ta sử dụng nó rất tốt, Tổng tuyển cử năm 1946, người dân đă bầu ra một Quốc hội rất xứng đáng, cách tiến hành cũng rất dân chủ và người dân hưởng dân chủ cũng rất đúng đắn.

Đương nhiên muốn thực hiện dân chủ không đơn thuần chỉ là quyết tâm, quy định mà cả điều kiện kinh tế xă hội, tŕnh độ văn hóa nữa. Bởi vậy tôi mới nói, băn khoăn của bạn Phúc Nguyên có căn cứ, nhưng không nên nói rằng v́ tŕnh độ của dân chưa cao nên chưa thực hiện dân chủ. Nói như thế là nguy hiểm chứ không phải là nói sai. Đó là một cách nói để chúng ta hạn chế quyền dân chủ của người dân.

"Hưởng dân chủ bằng cách cướp quyền dân chủ của người khác rất nguy hiểm"

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn Nguyễn Hồng Phong ở Quân khu 4 băn khoăn cho rằng: "Dân chủ th́ dễ bị phân tán quyền lực. Lúc này Việt Nam đang cần phải tập trung quyền lực, thậm chí độc tài để phát triển như Hàn Quốc, Singapore những năm đầu tiên ,có như vậy mới tập trung sức mạnh để dân tộc vượt lên được".

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Băn khoăn của bạn Nguyễn Hồng Phong cũng có cơ sở nhất định. Nhưng nói như thế cũng không đúng v́ dân chủ không có nghĩa ai muốn làm ǵ th́ làm. Khi nói đến hưởng quyền của người dân th́ chính Bác Hồ một vài lần đă lưu ư rằng: Một người dân trong xă hội ta bây giờ được làm tất cả làm những ǵ mà pháp luật không cấm. Dân chủ phải được thể chế hóa thành những quy định, chứ không phải dân chủ là muốn làm ǵ th́ làm. V́ khi chúng ta mỗi người mỗi ư, muốn làm ǵ th́ làm xă hội sẽ loạn.

Ví dụ, khi đi qua cái cầu, nếu 2 người gặp nhau không tránh, mỗi người cứ đi theo ư của ḿnh th́ xô nhau xuống suối thôi. Nên dân chủ phải trở thành cơ chế, thành quy định. Và bên cạnh việc được quy định rơ ràng những quyền th́ đồng thời pháp luật đưa ra những điều cấm, cấm không được làm v́ một người hưởng dân chủ mà hưởng một cách quá đà sẽ không chỉ phạm vào dân chủ chung của xă hội mà c̣n phạm vào dân chủ của người khác.

Hưởng dân chủ bằng cách cướp quyền dân chủ của người khác rất nguy hiểm! V́ vậy chúng ta có 2 công thức đối với người dân là: Làm tất cả những ǵ mà pháp luật không cấm, nếu cấm th́ thôi. C̣n đối với cán bộ th́ làm những ǵ mà pháp luật quy định.

Dân ḍ thái độ của Nhà nước mà ứng xử

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn đọc Nguyễn Việt Hùng là cảnh sát giao thông ở Đà Nẵng nói rằng: "Tôi thấy Luật Giao thông mà người dân c̣n chưa được tôn trọng th́ có luật pháp để làm ǵ. Có nên quá nhấn mạnh về luật pháp lúc này không khi mà đạo luật cơ bản nhất trong đời sống thường nhật, tác động vào từng cá thể như Luật Giao thông mà chúng tôi c̣n đang rất vất vả với người dân?"

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: (Cười). Chính tôi cũng thường khước lấy cái quyền đi lại trên đường. Chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng, trước đây chúng ta nói thời đánh Mỹ, thời chiến tranh ra ngơ gặp anh hùng th́ bây giờ chúng ta trong điều kiện hiện nay ra ngơ gặp người phạm pháp. Vi phạm pháp luật trước hết là vi phạm luật giao thông.

Tôi cũng thường suy nghĩ điều đó do ai? Tại sao pháp luật đă quy định rơ ràng mà người dân không thực hiện? Tôi trước hết từng là người trong bộ máy nhà nước; tự hỏi ḿnh rằng: nhân dân lập ra nhà nước để làm ǵ, sinh ra nhà nước để làm ǵ? Nhân dân bớt ăn để nuôi bộ máy nhà nước điều đầu tiên là để duy tŕ trật tự trị an.

Trật tự trị an chưa tốt đó là trách nhiệm của nhà nước. Một người cảnh sát giao thông thấy người dân vi phạm mà chỉ trách dân mà không trách ḿnh, như thế là không được. Dân người ta ḍ thái độ của nhà nước. Nhà nước này là nhà nước chung của mọi người, nhưng từng người một trong cuộc sống có quan hệ hàng ngày với pháp luật của nhà nước. Cho nên người ta ḍ thái độ của nhà nước, xem thái độ của nhà nước thế nào người ta sẽ có cách ứng xử tương ứng.

Nhà nước duy tŕ trật tự trị an chưa tốt, có khi là vô trách nhiệm và khi xử lí chúng ta lồng tiêu cực vào cho nên người dân nh́n pháp luật với một định kiến, cho nó là một cái ǵ không phải là thân thiết với ḿnh, thiện chí với ḿnh và v́ vậy có một thái đội đối lập, có khi là thù địch đối với pháp luật. Nên việc tôn trọng pháp luật phải từ cả 2 phía: từ phía nhà nước, phía bộ máy và cả những bộ máy trực tiếp trước hết là cảnh sát giao thông.

Từng người cảnh sát răm rắp làm theo pháp luật th́ trật tự giao thông khác hẳn. Bởi v́ trong cảnh sát giao thông cũng có tiêu cực, tuưt c̣i bắt không phải để phạt mà c̣n để xử lí này xử lí kia, phạt đó nhưng phạt như thế nào, trước hết phải tự trách ḿnh. Tại sao chúng ta được bộ máy nhà nước nuôi, được nhân dân nuôi mà để cho nhà nước như thế này. Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà nước mà là trách nhiệm chung của toàn xă hội.

Đương nhiên người vi phạm nếu nghiêm, chặt chẽ th́ phải xử lí, nhưng nếu một người vi phạm th́ dễ xử lí chứ hàng trăm người vi phạm rất khó xử lí. Cảnh sát đâu bắt cho hết để mà xử lí được. Hơn nữa phải thấy rằng việc tuân thủ pháp luật đó không chỉ là hạn chế con người, phải hiểu chỗ đó. Định ra pháp luật không phải để hạn chế con người, mà tạo ra khuôn khổ hợp lí cho con người hành xử. Và nếu chúng ta mỗi người biết xử lí đúng pháp luật th́ rơ ràng cuộc sống chúng ta sẽ tốt đẹp lên rất nhiều lần.

Tôi nhắc lại, nếu trước đây ra ngơ gặp anh hùng th́ bây giờ ra ngơ rặp người vi phạm pháp luật v́ chúng ta bản thân từng người dân một chưa có ư thức và như thế là ḿnh tự làm khổ nhau. Ta h́nh dung, bây giờ một người bị tai nạn nằm ra đường th́ bao nhiêu việc phát sinh, như thế là chúng ta làm khổ nhau rồi. Từng người một có ư thức th́ cuộc sống sẽ khác hẳn.

Mỗi người dân chúng ta phải hiểu rằng pháp luật sinh ra, nhà nước đặt ra không phải để cấm con người, hạn chế con người mà chính là để tạo khuôn khổ tự do cho con người. Tự do trong khuôn khổ pháp luật và v́ vậy phải xem pháp luật đó chính là khuôn khổ tự do của chúng ta. V́ anh vượt qua khuôn khổ đó th́ anh vi phạm vào tự do xă hội của người khác. Và không thể gọi là tự do nếu anh luôn luôn vi phạm tự do của người khác, hạn chế người khác.

Có một điều nhiều khi chúng ta, nhiều khi bản thân tôi cũng giật ḿnh là, từ lúc sinh ra đến lúc ta chết pháp luật đều có quy định. Một em bé sinh ra có những quyền ǵ, được khước những quyền ǵ, trách nhiệm của bố mẹ đối với con cái như thế nào, trách nhiệm xă hội đối với những đứa bé ra đời như thế nào.

Ngay lúc con người chưa nhận thức được ǵ hết pháp luật đă quan tâm đến anh và pháp luật đó cùng đi với chúng ta suốt cuộc đời. Có lúc con người quay lưng lại với pháp luật nhưng pháp luật không bao giờ bỏ qua ai cả. Ngay khi chúng ta chết rồi th́ những vấn đề pháp luật đặt ra và pháp luật quan tâm giải quyết. Nên bi kịch của chúng ta là thường chúng ta quay lưng lại với pháp luật, bất chấp pháp luật và không biết rằng điều đó đang tự làm rắc rối như nhau, làm khổ cho nhau.

"Liên Xô sụp đâu phải v́ diễn biến ḥa b́nh"

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn đọc Nguyễn Mạnh Thắng ở TP.HCM hỏi rằng: "Dân chủ là mục tiêu ngày đầu giành chính quyền là khát vọng của nhân dân, là mục tiêu đấu tranh của Đảng vậy mà tại sao đôi lúc lại trở thành vấn đề kị húy trong một số giai đoạn. Thậm chí, có vị lănh đạo c̣n nói rằng là phải cẩn thận với tṛ chơi dân chủ, có nơi th́ coi dân chủ là một trong những công cụ để thế lực thù địch diễn biến ḥa b́nh, chống chế độ chúng ta. Ông suy nghĩ thế nào về vấn đề này?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Đây là vấn đề tương đối phức tạp. Tôi nhắc lại ư rằng: về mặt tâm lí, đôi khi trong thi hành quyền lực bản thân phía người quản lí, người có quyền cũng muốn thoải mái, muốn tùy tiện, ngại dân chủ. Chẳng hạn, bây giờ ḿnh làm việc mà có những người cứ nói chỗ này chỗ kia, ḿnh thế này thế kia th́ cũng khó chịu. Về mặt tâm lí, cảm giác đó cũng dễ hiểu. Nhưng nếu chúng ta làm đúng pháp luật, cả 2 phía đều làm đúng luật th́ chuyện không có ǵ phải bàn.

Người ta có thể nói dùng pháp luật, dùng dân chủ để diễn biến ḥa b́nh, nói như thế đă thuyết phục chưa? Liên Xô sụp đổ có phải diễn biến ḥa b́nh đâu, cả phe xă hội chủ nghĩa, cả Đông Âu nữa, đó có phải là diễn biến ḥa b́nh đâu. Cái đổ đó là nhân dân vùng dậy để lật đổ. Đau đớn ǵ hơn là trong nhiều trưởng hợp người dân quay lưng lại với chế độ. Tại sao hàng triệu Đảng viên trong Đảng như thế, có đội quân hùng mạnh như thế tự nhiên chế độ Xô Viết sụp đổ. Đau đớn lắm! Tôi nghĩ đau đớn lắm!

Có ông bạn kể, khi báo tin cho bố ở quê biết chuyện Liên Xô không c̣n nữa, ông đă ôm mặt khóc. Điều đó cho thấy, với người dân rất b́nh thường ở một đất nước xa xôi như thế nhưng trong suy nghĩ của họ với chế độ Xô Viết như thế nào, người ta khóc v́ nó không c̣n nữa là v́ sao?

Một lần nữa tôi cho rằng, phải luôn luôn nhớ rằng sinh ra bộ máy nhà nước là để quản lư, giữ ǵn trật tự trị an, nhưng chúng ta làm không tốt nên người dân có phản ứng bằng nhiều h́nh thức. Có thể người ta mạnh mẽ phản kháng, nhưng điều đáng sợ hơn là nguy cơ người dân quay lưng lại với chế độ. Mà một khi người dân đă quay lưng lại với chế độ th́ không ǵ có thể cứu văn được.

Hiện nay ḷng tin của người dân đối với chế độ như thế nào c̣n liên quan đến một lĩnh vực khác đó là tham nhũng. Cái làm cho chúng ta đau đầu nhất hiện nay chính là tham nhũng. Trật tự an toàn một phần cũng ảnh hưởng từ tham nhũng, tiêu cực. Tiêu cực này ngày càng tràn lan và đi vào những ngóc ngách của cuộc sống xă hội. Có thể nói rằng bất ḱ một lĩnh vực nào liên quan đến bộ máy nhà nước, đều có thể có tiêu cực.

Gần đây, tôi có đến địa phương nói chuyện sinh hoạt, khi giải lao có một cán bộ b́nh thường vỗ vai tôi bảo: "Ông Lộc ơi, ông ở bộ Tư pháp, gần đây chúng tôi có nghe một từ lạ lắm là thị trường nhân sự. Nhân sự hiện nay trở thành thị trường để mua bán, và từ mua bán đó cho nên bộ máy chúng ta tiêu cực đi đến hư hỏng. V́ có chức có quyền, mua chức mua quyền đều có giá của nó từ cao đến thấp. V́ thế người đă bỏ tiền ra để mua chức đó th́ người ta t́m cách để thu về, mà thu về từ đâu, thu về từ người dân, mà người dân người ta phải mất tiền để được việc".

Từ đó mới thấy điều đáng lo là niềm tin của họ đối với bộ máy nhà nước phần nào đang bị giảm sút. Chỗ này cần được nh́n một cách thực tế. Bài học từ Đại Hội VI, chúng vẫn nói với nhau là nh́n thẳng vào sự thật để thấy được thực chất của vấn đề rằng hơn bất ḱ một lúc nào hết, lúc này là lúc niềm tin của người dân phụ thuộc vào hiệu quả của việc chống tiêu cực trong bộ máy.

Phải đổi mới căn bản cơ chế bầu cử hiện nay

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Ông cho rằng chúng ta phải hiểu đúng và phải thực thi dân chủ, phải làm dân chủ một cách thực chất, vậy theo ông chúng ta phải thực thi bằng cách nào, và bắt đầu từ đâu?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Trở lại vấn đề dân chủ. Khi nói đến dân chủ, trước hết là nói đến những quyền tự do dân chủ của người dân.

Hẳn nhiều người c̣n nhớ, ngày mồng 3/9 khi chính phủ đầu tiên họp, Bác Hồ đă nêu những nhiệm vụ cần làm ngay, trong đó có một ư rằng phải có một Hiến pháp, nhưng nhiều người lại chưa chú ư rằng Bác không nói Hiến pháp nói chung mà Bác đă nói rất kỹ rằng: "Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ". Cái chữ dân chủ là cơ bản.

Sau đó chính Bác là người tổ chức xây dựng Hiến pháp mới, Hiến pháp đầu tiên của nước ta, và xét về quyền tự do dân chủ của dân, th́ Hiến pháp 46 cho đến giờ là một mẫu mực. Có thể nói bất cứ quyền ǵ mà tŕnh độ tiến bộ thế giới về mặt dân chủ lúc bấy giờ người dân có thể được hưởng th́ Hiến pháp 46 đều quy định, không thiếu quyền ǵ.

Bây giờ, chúng ta cứ nói nhiều đến Hiến pháp 46, một trong những lư do cơ sở cũng là v́ đó là lần đầu tiên VN có Hiến pháp, mà Hiến pháp đó lại có nội dung về mặt dân chủ rất hoàn chỉnh, rất đầy đủ quyền tự do dân chủ của người dân.

Nhưng nói dân chủ th́ không đơn thuần là những quyền như thế mà c̣n là mối quan hệ giữa nhà nước với người dân. Cơ chế người dân hưởng quyền dân chủ, đồng thời c̣n có thể tham gia vào việc quyết định công việc của đất nước. Vấn đề này rất cơ bản. Công việc của đất nước mà lọt vào tay một số người nào đó, người dân không biết ǵ cả th́ không thể dân chủ được. Dân chủ là người dân được hưởng quyền tự do dân chủ nhưng đồng thời một trong những quyền đó là quyền tham gia vào những công việc của xă hội, tham gia quyết định công việc xă hội.

Nhưng, chúng ta có hơn 86 triệu dân, hoặc như Trung Quốc hơn 1,3 tỷ dân, nếu nói rằng người dân có quyền giải quyết, quyết định công việc đất nước, nhưng 86 triệu hay 1,3 tỷ dân như vậy th́ giải quyết thế nào? Cho nên chúng ta phải có cái gọi là dân chủ đại diện, tức là người dân để thực hiện quyền quyết định công việc đất nước của ḿnh chọn ra một số người, bầu ra một số người, giao quyền quyết định cho họ, từ đó mới có chế độ đại diện và mới có Quốc hội. Quốc hội chính là cơ quan thay mặt cho dân, được dân chọn ra và thay mặt cho dân quyết định công việc đất nước. Tức là quyền vẫn là quyền của dân chứ không phải quyền của đại biểu.

Lâu nay, người ta nói Hiến pháp hiện hành của chúng ta có vấn đề vướng, ví dụ nói "tất cả quyền lực thuộc về nhân dân". Nói như thế đúng quá! Nhưng vấn đề là có quyền lực rồi th́ anh làm ǵ, anh thực hiện quyền lực đó như thế nào? Chúng ta vẫn nói rằng là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân nhưng thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nói 2 câu ấy cũng đúng! Nhưng thực chất như thế nào?

Vấn đề rất lớn hiện nay chúng ta phải giải quyết, theo tôi hiểu, đó chính là làm thế nào cho chế độ đại diện bầu cử phải thực sự trở thành cơ chế thực sự dân chủ, mặt này chúng ta làm được c̣n nhiều hạn chế. Chuyện này tôi đă nói ở nhiều nơi, nhưng hôm nay, tại đây, tôi nói chính thức rằng nếu không cẩn thận th́ chính chúng ta đang chơi tṛ chơi dân chủ. V́ sao?

Tôi đă 75 tuổi rồi, đi bầu cử rất nhiều lần, đă thấy chúng ta bầu Quốc hội như thế nào? Đến ngày bầu cử, chúng ta vào pḥng bỏ phiếu; chúng ta được xem một danh sách ứng cử viên; chúng ta cũng đọc lư lịch ông này, bà kia; rồi chúng ta chọn... như thế là dân chủ quá rồi c̣n ǵ nữa. Nhưng thực ra đó cũng chưa phải là dân chủ, ở chỗ cái danh sách đó: Ai đưa ra? Đó là Mặt trận tổ quốc, là Ban bầu cử; Nhưng danh sách đó ở đâu ra?.... Nhiều khi hỏi anh em, anh em cũng giật ḿnh, bản thân ḿnh cũng giật ḿnh, là khi sáng bầu xong, tối vui miệng hỏi nhau bầu cho ai th́ không mấy ai c̣n nhớ.

Và suốt 5 năm cuả nhiệm kỳ đó, mấy ai trong chúng ta gặp lại đại biểu do ḿnh bầu không? Trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu đều có gặp gỡ và báo cáo tiếp xúc cử tri, nhưng đó cũng là cuộc gặp của những người lựa chọn. Sau lưng từng đại biểu Quốc hội, từng đại biểu Hội đồng nhân dân là hàng vạn cử tri. Nhưng có bao nhiêu người được lựa chọn ra cái danh sách đó.

Chính các nhà báo hỏi tôi: người dân có vấn đề ǵ th́ nghĩ đến ai? có nghĩ đến đại biểu của ḿnh không? Không- tôi đă trả lời như vậy.

Cử tri hầu như không nghĩ đến đại biểu của ḿnh. V́ sao? Cái điều đáng lo của chúng ta, chúng ta bây giờ rất tin Mặt trận tổ quốc, giao cho tổ chức này hiệp thương mỗi kỳ bầu cử. Cách làm của chúng ta là, Hiệp thương lần thứ nhất, hiệp thương lần thứ 2, rồi chính hội nghị Hiệp thương đó chọn danh sách, rồi cho đánh máy, in đàng hoàng đẹp đẽ và gửi cho người dân. Cử tri cuối cùng chỉ có một công việc chọn trong cái danh sách 5 chọn 3, 4 chọn 3. Thế là ǵ? Như ăn sẵn, là dân chủ h́nh thức.

Tôi cho rằng cần xem xét lại quy tŕnh Hiệp thương. Phải làm thế nào để từng người dân chọn được người ứng cử trong danh sách đó là người trực tiếp được bầu ra, được chọn ra chứ không phải qua các bước Hiệp thương ǵ hết.

Tôi c̣n nhớ có những người đi họp Hiệp thương về kể, hôm nay chúng tôi trao đổi măi anh này anh kia. Hóa ra đă có mấy người trao đổi với nhau nên chọn người này, bỏ người kia chứ cử tri có biết ǵ đâu. Như thế là dân chủ sao?

Một ông bạn nói, ông Lộc ơi, cái dân chủ nhất của ta bây giờ là bầu cử. Khi tôi nói lại, ông mới giật ḿnh, "ừ nhỉ lâu nay ḿnh quan liêu". Thế mới biết, không chỉ bộ máy quan liêu mà người dân cũng có thể quan liêu. Có biết ǵ đâu, hôm ra bầu cử danh sách 5 người, ứng viên nào cũng có ảnh rất sáng sủa. Nhưng họ là ai, cử tri cũng không biết, không hề gặp nhau. Mà bầu cử là bầu ra người mà ḿnh tín nhiệm, nhưng chỉ qua vài ḍng giới thiệu liệu có tin cậy được không(?)

Obama lên làm tổng thống Mỹ là qua sự sàng lọc trực tiếp của cử tri, hết ṿng này đến ṿng khác chứ có phải Đảng dân chủ tự lập danh sách rồi đưa ra cử tri bầu đâu.

Tŕnh độ đại biểu của chúng ta ngày càng cao, phát biểu cũng đầy trách nhiệm, nhưng đó chưa phải là tiếng nói cử tri, v́ trước và sau khi đi họp, ông đại biểu đó cũng chỉ gặp độ mấy trăm cử tri thôi.

Đáng sợ nhất là khi người dân quay lưng

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn
: Vậy hệ luỵ là ǵ?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Điều đáng sợ nhất là bầu xong rồi mà cử tri và đại biểu không hề gặp nhau. Nhưng chúng ta đừng trách đại biểu, tôi cũng không trách đại biểu. Để có một đại biểu Quốc hội, ngân sách phải bỏ ra khoảng 700 triệu, tốn kém như thế, nhưng chúng ta sử dụng vị đại biểu đó như thế nào? Đây là một nhược điểm chung của chúng ta, phải xem đại biểu như là một công cụ của người dân, chúng ta phải rất tốn kém để tạo ra được cái công cụ đó, nhưng sử dụng như thế nào th́ hầu như chúng ta lại không đầu tư một cách đích đáng cho người đại biểu.

Đại bộ phận đại biểu chúng ta là không chuyên trách, mỗi đại biểu bầu xong lại về làm công việc chuyên môn của ḿnh, rồi có thể thỉnh thoảng cử tri có gửi đơn nhưng không nhiều. Rồi mỗi người làm công việc chuyên môn của ḿnh, đến kỳ họp lại cắp cặp đi họp. Đến nơi th́ được phát một chồng tài liệu dày, tiêu hóa thế nào hết được chồng tài liệu đó, những vấn đề đặt ra trong đấy, cho nên điều kiện làm việc hiện nay của người đại biểu rất hạn chế, từng đại biểu không có thư kư giúp việc. Bởi vậy, khi bàn về dân chủ, có lẽ cần đổi mới căn bản chế độ bầu cử hiện nay.

Làm thế nào mà để cử tri thực sự t́m ra, bầu ra đại biểu để ḿnh bầu chứ không phải có người nào đó làm thay dân. Làm thay dân đó chính là một h́nh thức tham nhũng chính trị, hưởng quyền của người dân, quyền của dân mà anh lại hưởng. Cho nên không nên trách đại biểu mà trách cái cơ chế hiệp thương hiện nay của chúng ta.

Cho nên tới đây, chúng ta phải làm thế nào dân chủ hóa thực sự bộ máy của chúng ta, từ việc bầu cử đại biểu cho đến dân chủ hóa bộ máy nhà nước, làm thế nào chống được tiêu cực, chống được tham nhũng. Một ông bạn là viện sĩ cứ băn khoăn không biết ḿnh đi đến đâu? Nói là đi lên XHCN nhưng nó như thế nào, liệu có đi đến nơi không? Câu hỏi rất chân t́nh nhưng thể hiện nỗi trăn trở rất lớn của một vị GS. Trong cuộc hội thảo gần đây tôi cũng nói tôi không dám nhận ḿnh là nhà yêu nước, v́ có những điều ḿnh không yêu, nhưng có có một điều rơ ràng là tôi gắn bó với chế độ này, do vậy tôi phải nói chứ không thể để như thế này được.

Tôi nghĩ, nếu tất cả chúng ta không thấy được điều đó th́ có nghĩa là chúng ta tự lừa dối ḿnh, quay lưng lại với cuộc sống thực tế và điều đó sớm muộn nhân dân cũng không thể chấp nhận được. Bởi vậy tôi mới nói, đáng lo nhất là khi có vấn đề, nhân dân quay mặt lại với chế độ.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn
: Trong những năm kháng chiến chống Pháp trong vùng Tề tạm chiếm; rồi trong chống Mỹ , dân bị dồn, bị ḱm kẹp trong ấp chiến lược, chúng ta chưa có Hiến pháp, không có một quy định nào về việc Đảng độc quyền lănh đạo, nhưng mà ḷng dân khi đó hướng cả về Đảng, về Bác, đi theo Đảng, theo Bác. C̣n giờ đây, khi chúng ta đang có tất cả, có Hiến pháp quy định Đảng độc quyền lănh đạo, xác lập thể chế, hệ thống chính trị, v́ sao lại lo sợ người dân quay lưng lại như vậy?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: V́ trong chiến tranh mỗi đảng viên như thế nào? Người chiến sĩ của chúng ta như thế nào? Dân nh́n vào đó và dân tin. Dân có cơ sở để so sánh hồi chế độ cũ đă cư xử với dân như thế nào, những người đă xả thân đấu tranh cho dân ra làm sao. Vấn đề với dân là ḷng tin và ḷng tin chính là người ta hiểu được tấm ḷng của anh đối với dân.

Đáng lo bây giờ chính là bộ máy chúng ta đă thực sự lo cho dân, v́ dân chưa hay là chạy theo những lợi ích và cái điều đáng sợ là để dân quay lưng lại với ḿnh. Người dân phải chấp nhận nhưng không đồng t́nh với việc làm đó. Điều đáng lo chính là ở chỗ ấy.


"Đừng lấy diễn biến ḥa b́nh ra cản trở nhau"

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy điều quan trọng không phải là Hiến pháp quy định Đảng độc quyền lănh đạo, mà quan trọng hơn cả là ḷng dân phải không ạ?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Đúng vậy. Chúng ta xây dựng điều 4 trên cơ sở là chúng ta tin là nhân dân tin ở Đảng. Nhưng vấn đề là chúng ta có giữ được ḷng tin đó hay không? Đó là phía chủ quan của đảng, không nên trách dân. Chúng ta không phải người đầu tiên đưa vào Hiến pháp về sự lănh đạo của đảng cộng sản. Đây là chúng ta học Điều 7 trong Hiến pháp 36 của Liên Xô. Liên Xô sụp đổ, cũng là lúc cái điều trong Hiến pháp về sự lănh đạo của Đảng cộng sản được khẳng định rất mạnh mẽ.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn
: Đúng vậy, trong các Hiến pháp trước không có điều đó, măi đến Hiến pháp 92 chúng ta mới đưa vào Hiến pháp điều quy định về vai tṛ lănh đạo của đảng.

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Vâng, tôi nói rồi, vấn đề ở đây là ḷng dân mà. Thử hỏi ḷng dân ở đâu và v́ sao có ḷng dân đó, đó là vấn đề niềm tin của dân với chế độ, mà nói cụ thể hơn là đối với sự lănh đạo, đối với người lănh đạo. Khi những người lănh đạo thoái hóa biến chất, chúng ta cũng không thể giấu dân được, mọi việc làm của cán bộ người dân đều biết hết, mọi cái xấu xa người ta đều biết hết và chính v́ cái xấu xa đó mà người ta quay lưng lại với ḿnh.

Diễn biến ḥa b́nh, đương nhiên chúng ta phải cảnh giác, nhưng đừng lấy cái đó mà cản trở nhau. Giờ phải nói mạnh mẽ rằng phải chống tham nhũng thế nào, phải chống hiệu quả, chống từ trên xuống dưới chứ không phải ở một bộ, một cấp nào đó mới có hiệu quả và mới đáp ứng được cái mong mỏi của dân.

Tại sao khi về hưu các cụ là người kêu nhiều nhất? V́ chính những người như thế, như tôi chẳng hạn có lúc chưa hiểu ra.

Chẳng hạn, năm 2001 lúc sửa Hiến pháp, đưa được vào Hiến pháp điều Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân do dân v́ dân th́ rất mừng, sướng quá, xem đó như một thắng lợi. Nhưng 10 năm trôi qua, giờ nh́n lại thấy giật ḿnh hỏi: chỉ đưa vào từng đó là đủ, là hết à? Rơ ràng là không phải, v́ cả 5 chương về bộ máy nhà nước chúng ta vẫn quy định theo cách cũ.

Thế th́ cho dù Điều 2 của Hiến pháp có sửa nhưng cả mấy chương sau vẫn nằm ́ ra đấy th́ chẳng có nghĩa lư ǵ. Có khác ǵ chúng ta hô hào phải mạnh mẽ đi lên, đă nhấc một chân lên, nhưng chỉ nhấc lên mà không hạ xuống. Có khác ǵ dùng một cái bánh rất ngon nhử nhử "bánh này ngon lắm các bạn ơi" nhưng chỉ nhử thế mà không cho ăn ǵ cả.

Bởi vậy, nếu sửa Hiến pháp bây giờ cần phải sửa rất cơ bản. Cũng không nên nghĩ sửa là xóa cái cũ mà phải sửa cơ bản. Muốn thế phải soát lại một loạt vấn đề, trước hết những chương, điều nói vế bộ máy. Chúng ta nói tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực thông qua Hiến pháp, Hội đồng nhân dân các cấp là giống mô h́nh Xô Viết trước đây. Nhưng chúng ta vận dụng không hết mô h́nh của người ta, chúng ta hiểu chưa đến nơi đến chốn những quy định của người ta.

Chưa thấm hết đạo lư thế nào là một Đảng cầm quyền?

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn Văn Định hỏi, tại sao những điều luật đảm bảo quyền tự do dân chủ của người dân chúng ta định tŕnh Quốc hội nhiều lần như Luật Thông tin, Luật Trưng cầu dân ư, Luật về Hội... măi vẫn chưa làm. T́nh trạng treo như thế này có hệ lụy ǵ không?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Bác Hồ đă nói rất rơ, chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ, chứ không phải Hiến pháp chung chung. Từng người dân được đặt trong điều kiện quyền tự do đồng thời bộ máy, cơ chế để thực hiện quyền quyết định công việc đất nước cũng phải rất dân chủ, nếu cả 2 mặt đó đều tốt th́ sẽ có dân chủ, c̣n cả 2 mặt đều không tốt th́ không có nền dân chủ. Chúng ta có thể phàn nàn cái này cái kia nhưng vấn đề thực chất là không giải quyết được. Cho nên cần phải xác định thật rơ thực chất dân chủ là ǵ. Chúng ta cứ nói nhà nước pháp quyền nhưng nói măi vẫn dừng lại ở khẩu hiệu chứ chưa đi vào, thể chế thiết chế.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Vậy ai chịu trách nhiệm xây dựng thể chế, thiết chế này. Để chậm trễ như vậy ai chịu trách nhiệm?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Khi nói đến thiết chế là phải Quốc hội. Nhưng Quốc hội dưới sự lănh đạo của đảng. Chẳng hạn muốn sửa Hiến pháp, phải chờ đại hội Đảng quyết, Đảng quyết rồi mới thành quyết định của Quốc hội.

Có một vấn đề là trong một số văn kiện đă nói đến nhưng chúng ta chưa thấm hết đạo lư thế nào là đảng cầm quyền, trách nhiệm đến đâu, quan hệ với nhà nước thế nào v́ vậy mà hơi lúng túng, có lúc buông lỏng, có lúc lấn sân, có lúc bao biện làm thay.

Tôi cũng không hiểu hết tại sao Bác Hồ khi nói về Đảng th́ trước hết nói Đảng ta là đảng cầm quyền. Vậy đảng cầm quyền khác đảng thường thế nào?

Tôi đang có trong tay văn kiện Đại hội X, trong đó có phần giải thích của đồng chí Nguyễn Phú Trọng: đảng cầm quyền th́ hơi hẹp, phải nói đảng lănh đạo mới bao hết.

Nhưng Bác Hồ đă nhấn mạnh trong di chúc đảng ta là đảng cầm quyền, vậy phải hiểu đạo lư đảng cầm quyền là thế nào? Từ lănh đạo đến cầm quyền có là một không, và đảng cầm quyền quan hệ với dân với nước thế nào? Cả 2 cái đó chúng ta chưa làm rơ. Tôi vẫn nói, chủ thuyết chúng ta chưa rơ ràng, cần phải rơ ràng chủ thuyết rồi từ đó chuyển hóa thành quan niệm cụ thể.

Phải dân chủ hóa tư duy lí luận

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Cuộc sống đang đặt ra yêu cầu bức thiết cho Đảng, nên chăng Đảng không né tránh, đặt thẳng vấn đề này ra tại đại hội XI?

Ông Nguyễn Đ́nh Lộc: Tôi có tham gia một số hội thảo bàn về văn kiện đại

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmvi...=117940&z=1
DanTriVN
Không thể phủ nhận vai tṛ kinh tế Nhà nước
QĐND - Chủ Nhật, 29/08/2010, 23:47 (GMT+7)

Một trong những chủ đề khiến dư luận xă hội đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây là chuyện thua lỗ của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin). Sự kiện Bộ Chính trị đưa ra kết luận vụ việc đồng thời chỉ đạo hướng cơ cấu lại Vinashin, không chỉ cho thấy tầm quan trọng của tập đoàn này mà c̣n là vấn đề khôi phục niềm tin về vai tṛ và vị thế của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung trong nền kinh tế Việt Nam. Điều đáng tiếc là có một số người, nhân sự kiện này lại suy diễn cho rằng: “Mô h́nh tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam đă sụp đổ”; “Kinh tế nhà nước giữ vai tṛ chủ đạo là đường lối sai lầm ”…

Trước hết, cần phải khẳng định, kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nước mà c̣n có rất nhiều nguồn lực quan trọng khác, như ngân sách nhà nước, vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác (ngoài doanh nghiệp nhà nước), dự trữ nhà nước, tài nguyên quốc gia, đặc biệt là đất đai. Vai tṛ chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần đă được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là hoàn toàn đúng đắn và được khẳng định qua thực tiễn.

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới mới đây đă làm cho nhiều nhà quản lư và nghiên cứu phải nh́n nhận lại vai tṛ của kinh tế nhà nước. Thành công của nhiều quốc gia cứu văn nền kinh tế là dùng đến công cụ “kinh tế nhà nước”. Có thể không nói công khai, nhưng dưới nhiều h́nh thức, ở những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po,... kinh tế nhà nước vẫn đóng vai tṛ "bà đỡ" cho các doanh nghiệp vào những giai đoạn khó khăn, nhất là trong chuyển giao công nghệ, liên doanh góp vốn với nước ngoài. Chính phủ Mỹ, Nhật Bản, không phải chỉ một lần mà đă phải xuất dự trữ nhà nước nhiều lần để mua cổ phiếu nhằm cứu văn một số doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, ngay tại những nước tư bản phát triển nhất, kết cấu hạ tầng cũng vẫn phải do nhà nước đảm nhận xây dựng và vận hành. Nước Mỹ chắc chắn chẳng bao giờ rao bán NASA và các nhà máy điện hạt nhân cho các nhà tư bản dù các nhà tư bản này thừa tiềm năng để mua nó và vận hành… Kinh tế càng phát triển, hội nhập quốc tế càng sâu rộng, càng khẳng định vai tṛ kinh tế nhà nước với từng quốc gia.

Ở Việt Nam, vai tṛ chủ đạo của kinh tế nhà nước xuất phát từ lợi ích của đất nước, của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă hội. Kinh tế nhà nước phát huy tốt vai tṛ chủ đạo th́ kinh tế - xă hội sẽ phát triển nhanh, quốc pḥng - an ninh được giữ vững.

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, hiện nay, trong thành phần kinh tế nhà nước, một số doanh nghiệp nhà nước chưa xứng đáng với vai tṛ mà nó đang nắm giữ. Vẫn tồn tại những doanh nghiệp nhà nước không những không nuôi nổi người lao động của ḿnh, mà c̣n luôn đ̣i Nhà nước cứu trợ để bảo đảm sự tồn tại; một số doanh nghiệp khác th́ liên tục thua lỗ. Vinashin là một điển h́nh của sự yếu kém này.

Thế nhưng, không thể chỉ nh́n vào Vinashin mà đánh giá toàn bộ doanh nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước Việt Nam yếu kém. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương, năm 2009 là năm vô cùng khó khăn đối với các doanh nghiệp trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhưng các tập đoàn, tổng công ty nhà nước của Việt Nam vẫn đạt tổng doanh thu 1.164.469 tỷ đồng, tăng 42,4% so với kế hoạch năm; tổng nộp ngân sách 175.406 tỷ đồng, tăng 40,5% kế hoạch năm; tổng lợi nhuận trước thuế là 80.799 tỷ đồng, tăng 52,8% kế hoạch năm, tăng 5% so năm 2008… Đặc biệt, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đă có nhiều cố gắng, đóng góp thiết thực để Chính phủ bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế và tăng cường an sinh xă hội theo mục tiêu đề ra. Tất cả các huyện nghèo nhất của Việt Nam đều có các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nhận đỡ đầu, hỗ trợ.

Đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Việt Nam luôn khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng phát triển, nhưng chúng ta không thể kỳ vọng nhiều vào các doanh nghiệp tư nhân trong nước hoặc nước ngoài đầu tư phát triển các ngành kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cung ứng những hàng hóa và dịch vụ công ích. Thực tế ở Việt Nam hiện nay, khó t́m được tư nhân nào có thể nâng cấp và làm mới các tuyến đường giao thông ở vùng sâu, vùng xa. Khi thiên tai xảy ra, khó có tư nhân nào có thể cứu hộ, trợ giúp được cả một địa phương, một khu vực?

Như vậy, không thể từ những khó khăn của Vinashin mà phủ nhận vai tṛ, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung.
Trước những khó khăn, bất cập của kinh tế nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đă có những quyết sách đúng đắn. Mới đây, cùng với việc thông báo kết luận về Tập đoàn Vinashin, Bộ Chính trị cũng đă có thông báo kết luận về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Trước đó, vào tháng 2-2010, Chính phủ cũng đă ban hành Nghị quyết về việc ban hành Chương tŕnh hành động thực hiện Nghị quyết số 42/2009/QH12 của Quốc hội về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lư, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về phương hướng đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, Bộ Chính trị khẳng định: “Đẩy mạnh sắp xếp doanh nghiệp nhà nước theo hướng doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung vào những ngành, lĩnh vực quan trọng, then chốt mà Nhà nước cần nắm giữ, chi phối. Kiên quyết sắp xếp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ kéo dài, không có khả năng khôi phục; chấn chỉnh t́nh trạng tập đoàn, tổng công ty mở quá rộng ngành nghề mới nhưng không liên quan đến ngành nghề chính, không góp phần làm cho ngành nghề chính lớn mạnh mà c̣n làm cho nguồn lực tập đoàn, tổng công ty bị phân tán, mang nhiều rủi ro trong kinh doanh. Tổ chức, sắp xếp các tổng công ty nhà nước theo ngành, lĩnh vực trọng yếu để thành lập các tổng công ty nhà nước đủ mạnh và tiếp tục thí điểm các tập đoàn đang có để các đơn vị này thực sự là công cụ của Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp trong khu vực và thế giới”.

Như vậy, không phải Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam không nh́n nhận ra các hạn chế, yếu kém của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như một số người đă có ư kiến trên mạng internet. Trái lại, chúng ta đă nh́n nhận đúng thực trạng và đề ra các giải pháp để chấn chỉnh, đưa các doanh nghiệp này vào đúng quỹ đạo phát triển. Thực tế tại Tập đoàn Vinashin, sau gần một tháng thực hiện việc tái cơ cấu, đổi mới toàn diện tập đoàn theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chính phủ, đă có sự chuyển biến đáng phấn khởi. T́nh trạng công nhân phải nghỉ việc giảm hẳn. Các dự án đóng tàu của tập đoàn được khởi động trở lại. Quyết tâm của cán bộ, công nhân Vinashin là đến năm 2013 sẽ hết lỗ và đến năm 2015 có lăi.

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc đưa ra các lời cảnh báo, các ư kiến phản biện của các cá nhân đều có ảnh hưởng ít nhiều đến dư luận xă hội. Chúng ta trân trọng những ư kiến đóng góp chân thành, thẳng thắn mang tính xây dựng, nhưng cũng cần phải cảnh giác trước những thông tin thiếu khách quan, phản ánh không đúng bản chất sự việc, suy diễn thiếu căn cứ… làm người xem, người nghe hiểu sai chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/5/...23/Default.aspx
DanTriVN
Mỹ quay lại biển Đông, dân Sài G̣n 'hồ hởi phấn khởi'
Monday, August 30, 2010

Gió đă đổi chiều?

SÀI G̉N - Thời gian qua, nhiều người quan tâm đến thế sự ở Sài G̣n cảm thấy có “mùi lạ” khi bảo nhau đọc bài trả lời của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ trên VOA tiếng Việt: Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại...

“Tôi không tin, tin sao được, lại gạt dân nữa chớ có ǵ mới!” Một ông lăo từng là giáo viên trước 1975 b́nh luận khi nghe luận điểm của con trai cựu Bộ Trưởng Văn Hóa chế độ Cộng Sản, ông Cù Huy Cận.

Những người hiểu rơ chế độ này đều biết, không một cá nhân nào, dù là cực kỳ thế lực, dám mở miệng nói giọng hiệu triệu giới trí thức và quan quyền chế độ, về một chiến lược ngoại giao mới, mà không được Đảng cho phép. Nhất là lại nói ngay trên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ - VOA.

Chuyện ǵ đang xảy ra?

Trong một quán cà phê wifi, một thanh niên - công dân mạng Internet - mở laptop đọc tin tức, anh nói: “Chuyện biển Đông bỗng nhiên xoay chóng mặt luôn, chẳng biết thật hư đến đâu!” Nhưng, ở một quán khác, cánh phóng viên và cộng tác viên các báo trong nước đều vô cùng “phấn khởi hồ hởi” khi biết tin bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton bất ngờ xác định “lợi ích quốc gia của Mỹ ở biển Đông...”

Và câu nói trên của bà ngoại trưởng Mỹ như một ḍng chảy ngoài luồng, làm rạng rỡ hầu hết những gương mặt từng bế tắt, đau buồn bởi nguy cơ mất biển, mất nước vào tay Trung Quốc. Một tay phóng viên chuyên viết về giáo dục nói: “Bất ngờ quá anh, nhưng đă có chuyện để nói với mấy ông bạn thầy giáo và những học sinh đang chán nản v́ ghét Trung Quốc.”

Đúng là gió đă đổi chiều! Giải thích rơ hơn về điều này, một nhà thơ, không muốn nêu tên, nói với chúng tôi: “Thông thường, thời gian trước đại hội Đảng là thời gian ai cũng muốn tự khóa miệng, nhưng bây giờ người ta nói tràn lan: nào là bà Clinton đă cứu cho Việt Nam một bàn; nào là không có Mỹ, chắc mấy ngày vừa rồi Trung Quốc đă chiếm mấy ḥn đảo Trường Sa; nào là 'bọn nó' chỉ bốn ngày sau khi Mỹ tuyên bố biển Đông đă có ngay cuộc tập trận bắn đạn thật; chúng nó chuẩn bị đâu ra đó để chiếm đảo của ḿnh đó chớ, nhưng Mỹ làm cho chúng việt vị; nào là vân vân và vân vân...”

Cũng có một luồng dư luận khác tiếp tục hoài nghi. Một ông, từng là sĩ quan quân đội VNCH, v́ “học tập” về sớm, không đủ tiêu chuẩn đi HO, ông dựa trên bằng chứng bỏ rơi đồng minh c̣n nóng hổi của Mỹ mà hoài nghi: “Chờ coi! Mỹ chỉ đáng tin khi nào Mỹ có lợi. Chờ coi biển Đông có lợi với Mỹ ở mức độ nào. Chớ Cộng Sản th́ có lợi giữ yên chế độ rồi đó.”

Nhiều người sống ở miền Nam Việt Nam, từ bài học lịch sử của chế độ VNCH đă nhớ lại: Trước đây v́ ngăn chặn hiểm họa Cộng Sản ở Đông Nam Á mà Hoa Kỳ và đồng minh can thiệp vào Việt Nam. Lúc đó sự hiện diện của Mỹ được nhấn mạnh ở yếu tố lư tưởng nhiều hơn quyền lợi, và rồi, lá cờ bảo vệ tự do, dân chủ, cuối cùng cũng phải cuốn lại.

Hiểm họa Cộng Sản, mà cụ thể là Cộng Sản Trung Quốc, đă thắng. Nhưng sau chiến tranh, quan hệ đồng chí Trung-Việt bỗng găy gánh - sụp hầm, và cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1979 là đỉnh điểm.

Quốc gia là cốt lơi

Ngày nay, Mỹ không nh́n Trung Quốc qua lá cờ Cộng Sản nữa, mà coi đó là đối thủ chính, một siêu cường mới, cạnh tranh toàn diện với Mỹ trong những thập niên tới về vị trí siêu cường số một thế giới. Rơ ràng, ngày nay và tương lai thể chế Cộng Sản Trung Quốc hay Cộng Sản Việt Nam chỉ c̣n là h́nh thức. Bây giờ, lá cờ Mỹ trở lại biển Đông-Việt Nam. Lần này, tinh thần tự do dân chủ chỉ là yếu tố phụ, quyền lợi Mỹ mới là chính.

Trong chiến lược duy tŕ thế mạnh số một ở Châu Á, Thái B́nh Dương, chuyện siêu hàng không mẫu hạm USS George Washington và tàu khu trục USS John McCain đến bờ biển Đà Nẵng ngay sau lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ, phần nào đó nh́n bề ngoài giống như sự kiện quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam năm 1965.

Dân tộc Việt Nam hiện nay và tương lai không cho phép chế độ này hay bất cứ chế độ cầm quyền nào khác dâng đất nước vào tay Trung Quốc. Và tham vọng của Trung Quốc muốn chiếm biển Đông và Việt Nam th́ không phân biệt cái nước Trung Hoa là chế độ Cộng Sản hay Dân Chủ, bởi v́ đó là quyền lợi “cốt lơi” của Hoa Lục và vị trí siêu cường của họ. Dư luận c̣n nhớ, cách đây không lâu, ông Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào khi dự hội nghị APEC, thay v́ đáp chuyên cơ xuống Hà Nội đă chọn đặt chân trước xuống Đà Nẵng. Dư luận lúc đó cho rằng, đó là một dấu hiệu tham vọng xấu từ đế chế phương Bắc mới.

Dư luận trong nước, trong mấy ngày qua, là: hơn 30 năm sau biến cố 1975, điều trớ trêu, Việt Nam lại trở thành tâm điểm tranh chấp chiến lược toàn cầu của hai siêu cường. Thời điểm mà chính sách mới của Hoa Kỳ xác định: Quyền lợi Mỹ ở biển Đông. Đây thời điểm bước ngoặt trọng yếu của Việt Nam.

Đối với nhiều người Việt Nam, phía trước, điều bất hạnh hoặc điều tốt lành cho đất nước đều có thể diễn ra. Có người nói: Phải chờ sau đại hội Đảng coi phe thân Trung Quốc ra sao rồi mới biết. Người khác, lạc quan hơn, th́ khẳng định: cục diện chiến lược biển Đông và Việt Nam trên bàn cờ toàn cầu đă vận hành theo hướng của Mỹ, đó là tất yếu.

Nhưng, một thức giả Sài G̣n sống ẩn dật lại nghĩ rộng hơn. Trước hiện trạng tha hóa hiện nay, thay đổi kiểu nào cũng tốt. Nếu chẳng may, lại bị nạn ông Tàu xấu xa th́ sẽ đánh thức tinh thần quật khởi cả một dân tộc. Nếu thay đổi tốt th́ Việt Nam sẽ như con chim phượng hoàng bay lên từ đống tro tàn. Đi cùng với cộng đồng thế giới dân chủ - văn minh, lúc nào cũng là điều tốt nhất.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmvi...=118019&z=1
DanTriVN
China succumbs to Mekong nations

Asian giant shares dam information as U.S. takes advantage of China's poor reputation in Southeast Asia

By Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun August 30, 2010

China has made a significant policy about-turn in response to a sharp contest with the United States for friends and influence in Southeast Asia.

After years of rebuffing increasingly anxious requests for information about its dams on the upper reaches of the Mekong River from countries lower down the river's course, Beijing has relented.

China's change of tack comes as Washington is moving to broaden its non-military engagement with Indochina.

Dozens of U.S. officials have been shuttling back and forth to the region promoting cooperative agreements since July last year when Secretary of State Hillary Clinton launched what is known as the Lower Mekong Initiative.

The aim is to take advantage of China's less than stellar reputation in Southeast Asia by offering development aid and assistance to Vietnam, Cambodia, Thailand and Laos for whom the lower reaches of the Mekong River are a vital economic resource.

At the same time, the U.S. has signed the Treaty of Amity and Cooperation with the 10-nation club of regional countries, the Association of Southeast Asian Nations. This treaty affirms U.S. commitment to regional peace, stability and involvement in ASEAN processes and institutions.

China is very much aware it has a public relations problem in Southeast Asia, in part because of its belligerent military activities and outlandish territorial claims in the South China Sea.

But for the countries through which the Mekong River flows much suspicion of China stems from its secrecy over its dam-building projects on its stretches of the 4,880 kilometre-long river, which it calls the Lancang.

In recent months there has been a crescendo in the always intense public criticism in the region claiming China's four dams on the upper Mekong are affecting water flows, disturbing fish migrations and populations, and are threatening the livelihoods of up to 70 million people.

But in June, China shifted policy and officials from the Mekong River Commission (MRC), created by a 1995 agreement between Vietnam, Laos, Cambodia and Thailand, were invited to China's Yunnan province to look at two of the four dams. They are reported to have received detailed information about the operation of the dams and their effects on river flows.

The dams were the Jing Hong, already in operation, and the massive Xiaowan, one of the world's tallest dams whose reservoir will take up to 10 years to fill and which will hold 15 billion cubic metres of water, more than five times the capacity of the other three Yunnan dams put together.

China also invited the MRC to send officials to Beijing to discuss how China might play a fuller role in the commission's activities.

China and Burma, which its ruling military regime calls Myanmar, have always kept at arms length from the MRC.

Like all autocratic regimes, they try to avoid exposing their internal affairs to any outside scrutiny or influence, and have therefore only taken "dialogue partner" status with the commission.

China has, until now, been equally unforthcoming about sharing information with the MRC.

MRC officials have usually only learned when decisions have been made and ground broken about Beijing's dam-building plans on the 44 per cent of the Mekong than runs through Chinese territory after rising in the mountains of Tibet. And China has plans for at least another four dams on the Mekong to generate electricity and control floods.

Information about management of the completed dams has been equally hard to come by with China only recently giving detailed information about the wet season flows of water.

Now, apparently, China has indicated it will give information about the dry season flows too.

If China continues to openly share information about its dams and the life of the Mekong in its territory, it will do much to clear up a lot of disagreements and conflicting analysis about what is happening to the Mekong, which does not seem to be functioning as it has in past decades.

Most concerning are low water levels and their effects on such natural wonders as the Tonle Sap, the great lake in central Cambodia usually filled to overflowing every year by waters from the Mekong during the rainy season.

Fish from the Tonle Sap not only provide an incredible 80 per cent of the protein in the diet of Cambodia's 15 million people, the lake also acts as reservoir that feeds water back into the Mekong during the dry season and allows year-round cultivation and cropping in the delta region of Vietnam.

But the low volumes of water in recent years have frequently been blamed on China stemming the flow of the Mekong to fill the dam reservoirs feeding its hydroelectric schemes.

But MRC experts such as chief executive Jeremy Bird doubt this is so. He says he thinks prolonged drought in Southeast Asia is the most likely cause.

Australian author, historian and consultant on southeast Asian affairs, Milton Osborne, says the way the Chinese have tried to defend themselves against the charges by using misleading statements and information has damaged Beijing's cause.

Osborne points to China's regular response that it can't be held responsible for what happens on the lower Mekong, because only about 13 per cent of the water in the river at that point comes from China.

This, Osborne says, is nonsense because during the dry season, when the effects on features such as the Tonle Sap are most profound, at least 40 per cent of the water in the Mekong comes from China.

http://www.vancouversun.com/opinion/China+...9342/story.html

DanTriVN
An old but interesting article:

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch - một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng hiện nay
19:51' 21/7/2010

Trong thời gian tới, nhất là từ nay đến trước thềm Đại hội XI của Đảng, cuộc đấu tranh tư tưởng chắc chắn diễn ra ngày càng quyết liệt. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, cần phải tiến hành hàng loạt các giải pháp trên mặt trận tư tưởng, lư luận; trên lĩnh vực kinh tế-xă hội; trên mặt trận đối ngoại và an ninh tư tưởng v.v... Trong đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng hiện nay của Đảng.

Như chúng ta đă biết, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực cơ hội, thù địch là xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xă hội chủ nghĩa, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng tăng cường sử dụng “diễn biến ḥa b́nh” - một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng.

Trong chiến lược này, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa được chúng coi là “mũi đột phá”, ḥng làm tan ră niềm tin, gây hỗn loạn về lư luận và tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập cán bộ, đảng viên và nhân dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xă hội chủ nghĩa. Chúng ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, các blog để chuyển tải thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và móc nối, tổ chức lực lượng chống đối chế độ xă hội chủ nghĩa.

Đáng lưu ư là, trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới và cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, nhất là tin học đang phát triển mạnh mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và những diễn biến phức tạp mới trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến ḥa b́nh” chống phá cách mạng nước ta. Những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước hùa theo những luận điểm sai trái của địch, ra sức công kích Đảng và chế độ xă hội chủ nghĩa. Hàng ngày, chúng tung lên mạng, tán phát hàng chục tài liệu, từ xuyên tạc về lư luận đến vu cáo trong thực tiễn nhằm làm xói ṃn ḷng tin vào Đảng, vào chế độ xă hội chủ nghĩa; ra sức bịa đặt, bôi nhọ cán bộ lănh đạo Đảng, Nhà nước với mưu toan chia rẽ, kích động lật đổ chính quyền.

Năm 2010 là năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII..., các thế lực thù địch coi đây là thời cơ, là lúc “phất cờ”, cần tranh thủ tối đa cái gọi là “lực lượng cấp tiến” trong Đảng để chuyển hóa từ lượng thành chất. Chúng đă và đang dồn dập tung ra các quan điểm sai trái, vu cáo, bịa đặt, ḥng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta mất phương hướng về chính trị, tư tưởng để chúng dễ dàng thực hiện mưu toan “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

I- Quan điểm của Đảng ta về cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch

Cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ư thức hệ xă hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp và ngày càng diễn ra quyết liệt.

Trên mặt trận này, Đảng ta đă có nhiều văn bản chỉ thị, nghị quyết nêu rơ các quan điểm, nhiệm vu và giải pháp lớn. Một trong những văn bản quan trọng đó, là Nghị quyết Trung ương 5, khóa X, ngày 01/8/2007 “Về công tác tư tưởng, lư luận và báo chí trước yêu cầu mới”. Nghị quyết chỉ rơ: “Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến ḥa b́nh”, thực hiện đa nguyên chính trị, h́nh thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động pḥng, chống nguy cơ tự diễn biến ở cả trung ương và các ngành, các cấp”(1). Và gần đây nhất là, Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, ngày 02/2/2009 “Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng”. Nghị quyết nêu rơ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bồi dưỡng ḷng yêu nước, lư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội; giữ ǵn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, h́nh thành hệ thống giá trị của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo chuyển biến căn bản trong việc ngăn chặn, từng bước đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động pḥng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến ḥa b́nh” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng”(2).

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các văn bản của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ này, đă thể hiện nhất quán 3 quan điểm cơ bản của Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch: 1. Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ chế độ xă hội chủ nghĩa, là một nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng hiện nay. 2. Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là bộ phận khăng khít của cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến ḥa b́nh” trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. 3. Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, dưới sự lănh đạo của cấp ủy đảng các cấp.

II- Những vấn đề trọng tâm của cuộc đấu tranh đă được triển khai

Xuất phát từ t́nh h́nh và đ̣i hỏi mới của công tác tư tưởng, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trong những năm qua đă tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm mà kẻ thù đă và đang dồn sức tiến công chúng ta. Cụ thể là: 1. Phản bác luận điểm: “Chủ nghĩa Mác-Lênin là lỗi thời, là tội lỗi, đă và đang cáo chung”. Trong các bài phản bác, chúng ta khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách lư luận và phương pháp nhận thức thế giới, cải tạo thế giới vẫn giữ nguyên giá trị. Học thuyết h́nh thái kinh tế-xă hội, học thuyết giá trị thặng dư và lư luận về chủ nghĩa xă hội, trong đó học thuyết giá trị thặng dư được các nhà khoa học coi đó là “ḥn đá tảng” của chủ nghĩa Mác; và cho đến nay, các học thuyết đó vẫn là cơ sở rất quan trọng để xem xét, phân tích sự phát triển của thời đại. Điều đó giải thích v́ sao giữa lúc cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu diễn ra vào năm 2008-2009, một số nhà tư bản ở Ư, Anh, Đức... lại đổ xô đi mua bộ “Tư bản” của Mác để nghiên cứu với hi vọng t́m lối thoát cho cuộc khủng hoảng. Sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin được thể hiện ở chỗ, khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng, chưa có học thuyết nào thay thế được. Sự kiện hơn 10 nước ở châu Mỹ Latinh lựa chọn con đường xă hội chủ nghĩa thế kỷ XXI là một minh chứng hùng hồn. Đời sống xă hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, vẫn không đi ngoài những quy luật phổ biến đă được C.Mác tổng kết. Thực tiễn đổi mới thành công ở Việt Nam, Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua; sự vững vàng của cách mạng Cuba trước sự bao vây, cấm vận, chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, cũng như sự trỗi dậy của phong trào cánh tả theo xu hướng xă hội chủ nghĩa ở các nước châu Mỹ Latinh trong những năm gần đây đă khẳng định sức sống mănh liệt và sự lan tỏa của chủ nghĩa Mác-Lênin. 2. Phản bác luận điểm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là mớ lư thuyết hỗn độn nhằm đề cao, sùng bái cá nhân; là một di hại to lớn của lịch sử, cần phải được vạch trần, lên án” (qua phim Sự thật Hồ Chí Minh). Chúng ta đă chỉ rơ: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xă hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, v́ dân; về quốc pḥng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là lănh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...“Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam” - Đó là sự tôn vinh của Tổ chức Văn hóa và Giáo dục thế giới. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị, khóa X đă được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng như kiều bào ở nước ngoài hưởng ứng, đạt hiệu quả thiết thực và có sức lan tỏa sâu rộng... Đó là những minh chứng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh đă, đang và sẽ măi măi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, măi măi là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. 3. Phản bác luận điểm: “Việt Nam chọn con đường xă hội chủ nghĩa là ảo tưởng; là sự trượt dài theo vết xe đă đổ ở Liên Xô và Đông Âu”. Chúng ta khẳng định rằng, con đường cách mạng mà nhân dân ta đă lựa chọn “độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xă hội” là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn nước ta và yêu cầu bức xúc của xă hội Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Yêu cầu đó là độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Kiên tŕ mục tiêu đó, chúng ta đă giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Chúng ta có quyền tự hào chính đáng khi nhận định rằng,“Với những thắng lợi đă giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đă trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xă hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đă trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xă hội; đất nước ta đă thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng răi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới”(3). Đó là thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận, xuyên tạc. Xây dựng đất nước theo con đường xă hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay không sẵn có mô h́nh, là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật, hợp ḷng dân. Công cuộc đổi mới của chúng ta hơn 20 năm qua có cả thành tựu và khuyết điểm, nhưng thành tựu là cơ bản, là mặt chủ yếu của sự phát triển. Khuyết điểm không phải mặt cơ bản, chủ yếu, song chúng ta tự nghiêm khắc thấy rằng, có một số mặt rất nghiêm trọng, không thể xem thường. Thực tế chỉ rơ, trong bất cứ trường hợp nào, Đảng ta đều dũng cảm nh́n nhận, không chối bỏ trách nhiệm về những yếu kém của ḿnh. Phản bác luận điểm: “Phải xóa bỏ chế độ một đảng, lập đa đảng mới khắc phục được các căn bệnh trầm kha của xă hội, như tham nhũng, quan liêu...”. Nhiều người đă rơ, Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định tại Điều 4 về sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và xă hội là ư nguyện của toàn dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đă chứng minh điều đó. Thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua do Đảng ta khởi xướng và lănh đạo, được nhân dân ghi nhận, đồng t́nh. Đến nay, tuy c̣n không ít khó khăn, nhất là ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, nhưng bước đầu chúng ta đă kiềm chế được lạm phát, bảo đảm an sinh xă hội, kinh tế tiếp tục phát triển tăng trưởng, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện; chính trị ổn định; quan hệ đối ngoại mở rộng. Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đó là xu hướng chủ đạo trong quá tŕnh phát triển của đất nước. Không có Đảng Cộng sản lănh đạo, sẽ không có thành tựu vĩ đại đó. Sự khủng hoảng triền miên của các đảng phái chính trị phương Tây hay gần đây ở một số nước khu vực Đông Nam Á đang là một thực tế sinh động bác bỏ luận điểm “phải có đa đảng th́ Việt Nam mới phát triển, vượt qua tụt hậu”. Trong thời đại ngày nay, đảng nào chỉ đại diện hạn hẹp cho lợi ích của thiểu số giàu có, th́ dù có thích ứng đến đâu cũng khó tồn tại bền vững được. Qua khảo sát ở Thụy Điển cho thấy, Đảng Xă hội dân chủ Thụy Điển nắm quyền từ năm 1932; sau 44 năm đưa Thụy Điển từ một nước lạc hậu, nghèo nàn trở thành một nước phát triển. Nhưng tại sao năm 1976, Đảng Xă hội dân chủ Thụy Điển thất cử, Đảng khác lên thay; từ đó đến nay, có lúc giành được quyền, có lúc lại mất quyền lănh đạo. Một số nhà xă hội phân tích: Đảng Xă hội dân chủ Thụy Điển muốn điều tiết để bảo đảm công bằng xă hội, nhưng bằng điều tiết phân phối, chứ không điều tiết sở hữu... Đại sứ Thụy Điển tại Liên hợp quốc khi Đảng Xă hội dân chủ Thụy Điển thất cử nói: “Thụy Điển cần Ericsơn, nhưng Ericsơn không cần Thụy Điển” (Ericsơn là tập đoàn lớn nhất của Thụy Điển). Ở đây, tư hữu là chủ đạo, mấy nhà tư bản kếch sù nắm quyền chủ đạo. Chính phủ, quốc gia cần họ, chứ họ không cần chính phủ. Chúng ta không bao giờ quên thực tế này.Về cái gọi là “đa nguyên mới có dân chủ”, chúng ta chỉ rơ, không có nước nào, kể cả những nước tự cho ḿnh là dân chủ nhất, lại dung túng cho những hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cần thấy rơ rằng, những người phê phán chế độ một đảng ở nước ta thực ra là muốn hợp pháp hóa vai tṛ của các lực lượng chính trị phản động đă bị nhân dân ta đánh đổ.Nghiên cứu về chế độ một đảng ở Việt Nam, tác giả Dam Fforde viết: “So với các chế độ cộng sản cùng đang cải cách khác, Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt. Năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ chiến tranh, Đảng đă loại mọi đối thủ và khôi phục được Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lănh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đă dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng... Ở Việt Nam trong tương lai khó có thể h́nh dung cơ sở xă hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam... Hơn nữa, Đảng phải tăng cường hệ thống một đảng không chỉ v́ lư do tư tưởng mà c̣n hầu hết đảng viên đều tin rằng đường lối chính trị cạnh tranh sẽ làm trầm trọng thêm những chia rẽ giữa các vùng và làm mất ổn định chính trị”(4). 5. Phản bác luận điểm: “Đă công nhận kinh tế thị trường tức là đă thừa nhận chủ nghĩa tư bản, do vậy phải cắt “cái đuôi” định hướng xă hội chủ nghĩa”.Chúng ta chỉ rơ: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xă hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đă được xây dựng”. Đây là kết luận rất sâu sắc cả về lư luận và thực tiễn tại Đại hội VIII của Đảng.

Trong Văn kiện Đại hội Đảng IX (tr 86) nói về con đường đi lên chủ nghĩa xă hội, Đảng ta khẳng định “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lư của Nhà nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa”.Đại hội Đảng X đă tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta với 4 nội dung định hướng xă hội chủ nghĩa cơ bản sau:- Thứ nhất, về mục tiêu phát triển của nền kinh tế thị trường là “dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trước đổi mới, chúng ta mắc sai lầm là đồng nhất CNXH với công hữu về tư liệu sản xuất, mà chưa thấy rơ, dù công hữu hay tư hữu đều nhằm mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất để chăm lo đời sống của con người. Hồ Chí Minh nói, CNXH là để cho con người ai cũng có việc làm, được ấm no, được học hành và sống một đời hạnh phúc.- Thứ hai, điều kiện để bảo đảm mục tiêu trên là phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước phải giữ vai tṛ chủ đạo.- Thứ ba, giải quyết đúng mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xă hội. Chúng ta thực hiện tiến bộ và công bằng xă hội ngay trong từng bước đi và trong từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục... giải quyết tốt các vấn đề xă hội v́ mục tiêu phát triển con người. - Thứ tư, thực hiện chế độ phân phối và điều tiết phân phối lại. Chúng ta thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực và thông qua phúc lợi xă hội. Như vậy là, thực hiện nhiều h́nh thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu.6. Phản bác luận điểm: Trong đối ngoại, không có cái gọi là “làm bạn với tất cả các nước”; hiện nay “chỉ có thể dựa vào Mỹ hoặc Trung Quốc mà thôi”... Trước hết, chúng ta chỉ rơ, với kết quả hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đă mở rộng quan hệ đối ngoại với hơn 180 quốc gia trên thế giới; chủ động, tích cực và ngày càng hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế. Thứ hai, mục tiêu đối ngoại là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước ta. Chúng ta kiên tŕ hai nguyên tắc lớn: giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền, lợi ích dân tộc; và định hướng xă hội chủ nghĩa; thực hiện sách lược linh hoạt “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Về phương châm đối ngoại, chúng ta chỉ rơ: Một là, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Hai là, lấy lợi ích dân tộc làm quyết định. Ba là, trong quan hệ quốc tế cần thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Đảng ta chỉ rơ, hợp tác nhưng không rời bỏ đấu tranh trên những vấn đề đụng đến lợi ích quốc gia của chúng ta - đó là giới hạn của hợp tác. Đấu tranh phải kiên quyết, nhưng không để đưa đến bị “cắt cầu”, không đưa đến đối lập, đối đầu. Đó cũng là giới hạn và nghệ thuật chọn lựa trong quan hệ quốc tế. Bốn là, phải xếp loại các đối tác theo t́nh h́nh mới. Ngoài những vấn đề cơ bản nêu trên, chúng c̣n xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ các đồng chí lănh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ, tạo ra t́nh trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ ta. Nh́n lại, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trong những năm qua, nhất là từ khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 12, khóa IX về nhiệm vụ này (năm 2005), chúng ta đă từng bước chuyển từ thế bị động sang thế chủ động, triển khai khá đồng bộ trên các công cụ báo viết, báo nói, báo h́nh, báo điện tử, trên mạng internet, đặc biệt là sử dụng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng xuống tận các xă phường; góp sức nâng cao nhận thức tư tưởng, tinh thần cảnh giác cách mạng, phát động ư thức đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lợi ích của nhân dân, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, củng cố trận địa tư tưởng xă hội chủ nghĩa.

Từ những mặt được và chưa được của cuộc đấu tranh, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu, nhằm làm tốt việc triển khai chu đáo hơn nữa, có hiệu quả hơn nữa.

III. Một số kinh nghiệm bước đầu

1. Cần nhận thức sâu sắc tính chất cực kỳ nguy hại của những quan điểm sai trái, thù địch; trên cơ sở đó tăng cường vai tṛ lănh đạo của các cấp ủy đảng đối với cuộc đấu tranh này.

2. Phải huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là đội ngũ các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sỹ tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch.

3. Kết hợp hài ḥa các h́nh thức đấu tranh: trên báo chí công khai, trên mạng Internet, các blog...; triệt để sử dụng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng.

4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các bài viết phản bác, hết sức chú ư tính chiến đấu, tính thuyết phục. Muốn vậy cần có bộ phận nghiên cứu xây dựng hệ thống lư luận đấu tranh phản bác chung quanh những vấn đề cơ bản, trọng tâm mà các thế lực thù địch đang tập trung khai thác trong từng thời điểm cụ thể. Cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trong những năm qua, mà gần đây nhất là việc triển khai, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa X, ngày 01/8/2007 “Về công tác tư tưởng, lư luận và báo chí trước yêu cầu mới” đă được tăng cường trên các phương tiện thông tiện thông tin đại chúng trong nước và trên các báo điện tử nước ngoài, tập trung vào 6 vấn đề trọng tâm, trọng điểm nêu trên, đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, trước những mưu toan thâm độc và tính chất quyết liệt của những luận điểm sai trái và phản động, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch cần được thường xuyên coi trọng hơn nữa, tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh, thu hút đông đảo lực lượng tham gia, nhất là các nhà khoa học, các trí thức, văn nghệ sĩ tâm huyết; sử dụng đa dạng các phương thức đấu tranh; đặc biệt cần chú ư nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Trong thời gian tới, nhất là từ nay đến trước thềm Đại hội XI của Đảng, cuộc đấu tranh tư tưởng chắc chắn diễn ra ngày càng quyết liệt. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, cần phải tiến hành hàng loạt các giải pháp trên mặt trận tư tưởng, lư luận; trên lĩnh vực kinh tế-xă hội; trên mặt trận đối ngoại và an ninh tư tưởng v.v... Trong đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng hiện nay của Đảng.

PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh

-----------------------------
(1) Văn kiện Hội nghị Trung ương 5, khóa X, Nxb CTQG, H, 2007, tr.45(2) Văn kiện Hội nghị Trung ương 9, khóa X, Nxb CTQG, H, 2009, tr.187-188(3) Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă hội (bổ sung, phát triển năm 2011), tr 3, 4 (Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng các cấp cơ sở, tháng 4/2010) (4) Viện Phát triển quốc tế Harvard, Trường Đại học Harvard: Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, Nxb CTQG, H. 1994, Tr 523, 539.

(Nguồn: Tạp chí Tuyên Giáo)

http://www.xaydungdang.org.vn/Home/dien-da...-mot-nhiem.aspx
DanTriVN
Vietnam Firmly Emerges In US Strategic Calculus
Tuesday, 31 August 2010 00:03

By Dr Subhash Kapila

The East Asia security environment in the first decade of the 21st Century has witnessed a greater flexing of strategic muscles by China buoyed by a combination of factors arising from United States exhibiting ambiguities in its strategic approaches to East Asia security. The major reasons were the United States military interventions in Iraq and Afghanistan which strategically distracted it from its prime focus of China’s military rise and its implications for East Asia security.

It was not that the United States was totally oblivious to China’s end- game in strategically diminishing the United States in East Asia. An indicator towards this recognition was the United States growing recognition by the middle of this decade that its security architecture in East Asia was strategically incomplete without co-opting Vietnam as a strategic partner, if not as a strategic ally.

This trend was highlighted in this Author’s SAAG Paper entitled “Vietnam: Renewed Significance in United States Strategic Calculus” (Paper No. 1796 dated 10.5.2006).

Vietnam’s significance was recognized as far back as 1995 when President Clinton normalized United States relations with Vietnam and became the first US President to visit Vietnam after the American military withdrawal from Vietnam after years of sustained military operations.

United States-Vietnam relations thereafter followed a subdued trajectory until the middle of the present decade as both the United States and Vietnam weighed the consequences of adding firmer strategic contours to their evolving relationship. Both the United States and Vietnam seemed to have been engaged in hedging strategies in relation to China, and balancing their relations with China, till China made its strategic hand more clearer.

By 2004-2005 events in East Asia clearly indicated that China was not a responsible stakeholder in East Asia stability and was intent on carving out East Asia as an exclusive Chinese sphere of influence excluding United States from the region and forcing regional states like Vietnam, Japan and South Korea to adjust strategically and politically to its ambitions.

The United States having woken up to this reality and Vietnam having been persistently mauled militarily by China in the South China Sea disputing Vietnamese sovereignty over more than half of the islands scattered in the South China Sea, has resulted in the middle of 2010 for the United States and Vietnam to edge more closer strategically.

In a befitting finale to the process of normalization of US-Vietnam relations initiated by President Clinton it was left to his lady wife, the US Secretary of State Hillary Clinton to articulate the underpinnings of United States intentions to add strategic contours to this relationship.

Without going overboard, what one can safely assert at this stage is that if both the United States and Vietnam invest strategic value to their emerging relationship this could emerge as a “game changer” in East Asia security environment.

With the above as the context, this Paper would like to examine the following aspects:



* Vietnam’s Pivotal Geostrategic Significance
* Vietnam and United States: The Emerging Strategic Convergences
* United States Recent Political and Strategic Signaling in Relation to Vietnam

Vietnam’s Pivotal Geostrategic Significance

Vietnam’s pivotal geostrategic importance stands amplified in my earlier Papers on the subject but still it would be pertinent to the discussion to reiterate some of the more salient aspects.

Vietnam’s pivotal geostrategic significance arises from its unique geographical location in which intersect the strategic interests of all the major powers, namely, the United States, Russia, China, Japan and India. Vietnam’s long land border with China and its much longer and elongated Littoral astride the South China Sea claimed by China as its exclusive area of influence, endow Vietnam with a geostrategic significance far outweighing any other consideration.

Vietnam shares the coastline with China in the Gulf of Tonkin in the North and lies squarely opposite and in close proximity to China’s outsized island of Hainan where China has developed a major nuclear submarines base. Thereafter the Vietnamese coastline runs in a Southerly alignment in parallel to the South China Sea for hundreds of kilometers and finally turning Westwards into the Gulf of Thailand.

With such a configuration coupled with the numerous Vietnamese islands that dot the South China Sea, Vietnam is uniquely placed to dominate the South China Sea, if it had the resources to build a sizeable Navy.

It is for this reason that China hotly contests Vietnamese sovereignty over the South China Sea Islands besides the factor that this sea is rich in oil and natural gas deposits. The other more important considerations for China are military related factors. China’s energy security over and above the pipeline grid that it is configuring all over the Asian heartland and countries like Pakistan, will still continue to rely heavily on sea-lanes from the Gulf to China traversing through the South China Sea. They would become vulnerable to a Vietnam tied up strategically to a major power like the United States.

Conversely a South China Sea firmly in uncontested hands of China would endow it with significant military coercive capabilities to strangle American allies like Japan and South Korea besides interrupting United States Navy transference of naval forces from the Pacific to the Indian Ocean Region.

In greater military effect an uncontested South China Sea under firm control of China combined with China’s hold over the East China Sea would preclude any United States military sea-borne intervention against China and aiding Taiwan against a Chinese attack.

Vietnam and United States: The Emerging Strategic Convergences

In a security environment of East Asia and more specifically the South China Sea, which is under constant threat of strategic destabilization by China, what arises obviously and with great military logic is that strategic convergences should arise between Vietnam and the United States.

In fact a strong and undeniable strategic interdependence emerges that both USA and Vietnam should seek to checkmate China, if not to contain it by a formal military security pact.

Focusing on Vietnam first, the strategic reality is that Vietnam on its own is not militarily capable of checkmating China currently, even with its valorous record of militarily defeating China in 1979. Vietnam needs a major power like the United States with its military preponderance in Asia Pacific as countervailing power against its China threat.

Russia as the traditional major power supporting Vietnam is geographically too distant from the region and nor does it have the naval might to make its presence felt in the South China Sea. Russia also has to think about its relationship with China in the global context to balance the United States. But it is likely that Russia could wink at an emerging strategic relationship between Vietnam and the United States.

Coming to the United States strategic interest in Vietnam, there is a lot that the United States can gain strategically in a close political and strategic relationship with Vietnam. It would enable the United States to have a second foothold on Asian Mainland in addition to South Korea, and this time on China’s Southern flank and thereby adding to China’s vulnerability on a second flank.

While on the Korean Peninsula, the United States has a foothold for its ground forces but they have to face a buffer state of North Korea shielding China. In the South, China does not have a buffer state to separate it from Vietnam.

Even before this stage is reached where USA and Vietnam get tied into an alliance relationship, tremendous strategic advantages accrue with even an evolving strategic relationship to the United States in relation to the security of the South China Sea and prevent its total domination by China which it is intent on doing so.

This is achievable in two ways by the United States. The first option is to position a sizeable US Navy presence in the South China Sea which has a logistic call on Vietnamese ports for sustenance. The second and most immediate course is for the United States to build up the military capabilities of the Vietnam Navy in terms of combatant assets, maritime surveillance assets and naval air surveillance assets.

Basically, the major strategic convergence of both Vietnam and the United States focuses on the threat that China poses in the South China Sea. China’s permissive complicity with the North Korean sinking of the South Korean Navy ship in the East China Sea is an indicator of events that could follow in the South China Sea.

Further there are strong economic convergences between Vietnam and USA extending from major US investments in a fast growing Vietnamese economy to oil prospecting in the South China Sea. Vietnam has already granted rights to US firms and Indian firms to which China is protesting vehemently. The United States is already the top foreign investor in Vietnam.

In the overall East Asia security configuration, any United States initiatives to establish a strategic relationship with Vietnam would find a strategic convergence of interests with traditional US allies in the region like Japan, South Korea and Australia.

United States Recent Political and Strategic Signaling in Relation to Vietnam

Politically, high level exchanges have been in operation from about 2005 onwards. From 2008 onwards a formal US-Vietnam Political, Security and Defense Dialogue has been taking place annually.

At the 2010 Shangri-La Strategic Dialogue in May 2010 US Secretary of State, Gates strongly asserted that the United States viewed the South China Sea Region as an area of growing concern. Further, he asserted that the United States opposes the use of force and actions that hinder freedom of navigation and that the United States objects to any actions to intimidate US corporations or those of any other nations employed in legitimate economic activity the South China Sea.

These assertions were an obvious reference to China’s current aggressive postures in the South China Sea and also to intimidate Vietnam.

In the defence and security fields, the United States has increased IMET programs for Vietnam’s armed forces personnel and may also positively respond to Vietnamese requests for spare parts for US military hardware leftovers of the Vietnam War.

Similarly, US Secretary of State Clinton’s visit to Hanoi for an ASEAN Conference followed up Gate’s assertions in equal measure indicating that at long last the United States was recognizing Vietnam’s strategic worth in East Asia security in relation to US strategic interests.

Recently in another signaling the United States Navy aircraft carrier USS ROOSEVELT called at Da Nang naval base in Vietnam for a four day call and will be followed by other US Navy ships. It needs to be recalled that the US aircraft carrier proceeded straight to Vietnam after joint exercises with the South Korean Navy as a retaliatory measure against the CHEONAN sinking incident in the East China Sea.

The US Navy and Vietnamese Navy had carried out some joint naval exercises overtly stated as anti-piracy exercises.

There are some reports that indicate that Vietnam may be inclined to lease out its Da Nang Naval Base to the United States. Vietnam would be well advised to offer Da Nang to the United Sates Navy on commercial terms if not as a naval base as it would facilitate a longer positioning of US Navy ships ‘on station’ in the South China Sea.

It has been announced that the United States is willing to provide assistance, know-how and other help required for setting up civilian nuclear power generation infrastructure in Vietnam

These may be tentative steps but they do portend greater strategic engagement between the two nations.

Concluding Observations

China’s military-muscle flexing in the East China Sea and the South China Sea has finally hastened the long awaited inevitability of a United States-Vietnam strategic relationship. Both nations stand to gain from a maturing of such a strategic relationship.

A fully matured United States strategic relationship could emerge as a “game-changer” in East Asia security environment and contribute to overall security and stability in the region besides ensuring for the United States “the freedom of the high seas” so guardedly nourished by the United States as a cardinal principle of its National Security Strategy.

In witness today is the “balance of power “jostling of the United States with China in which Vietnam is fast emerging as a significant actor in the United States strategic calculus.

This can best be projected in the words of Ed Ross who heads a US international consulting firm who states that “Balance of Power politics is a chess-game and not a tennis match.”

East Asia security with China’s greater strategic assertiveness and muscle flexing promises to be a long drawn out strategic chess-game with the balance in favor of the United States provided it dispenses with its China-hedging strategy.
SAAG
------------------------------------------------
SAAG is the South Asia Analysis Group, a non-profit, non-commercial think tank. The objective of SAAG is to advance strategic analysis and contribute to the expansion of knowledge of Indian and International security and promote public understanding. In so doing, the SAAG seeks to address the decision makers, strategic planners, academics and the media in South Asia and the world at large. The group holds the concept of strategy in its broadest meaning-including mobilization and application of all resources to understand national and international security. The aim of the group is not to compete with Governments, Academics, NGOs or other institutions dealing with strategic analysis and national security but to provide another point of view for the decision makers and other national/international think tanks.

http://www.eurasiareview.com/201008307553/...c-calculus.html
DanTriVN
Phu gạch

TP - Miền Trung, mảnh đất nghèo khó luôn gánh chịu sự dập vùi và cuồng nộ của trời đất, khiến một bộ phận lớn người dân phải rời quê đi t́m miếng cơm manh áo. Phu đào vàng, phu gạch, phu mỏ đá, dầm mưa dăi nắng với chiếc nón mê trên đầu và quang gánh nặng trĩu trên vai, họ lăn lộn khắp nơi mong kiếm thêm đồng tiền, bát gạo.

Trên nền sẫm màu khói bụi là những phụ nữ lầm lũi với chiếc xe kéo nườm nượp vào ra. Họ có tên gọi: Phu gạch.

Nhọc nhằn và hiểm nguy

Đến khu ḷ gạch thủ công xóm 4, xă Nghi Vạn, huyện Nghi Lộc (Nghệ An), thấy những cột khói bay lên tựa một khu công nghiệp. Chật vật với con đường đất vài trăm mét lồi lơm, mù mịt khói bụi do hàng ngàn lượt xe chở gạch, vật liệu, nguyên liệu đốt ḷ ra vào liên tục chúng tôi mới đến được khu ḷ gạch thủ công này. Mùi khí độc phả ra từ ḷ khét lẹt. Những ngôi nhà, hay nói đúng hơn là lán ở cho phu gạch ở nhuốm màu xám bạc.

Dạo một ṿng, khi quay ra trên khuôn mặt chúng tôi đă bám đầy một lớp bụi. Vậy mà, những phu gạch ở đây vẫn phải làm việc quanh năm trong điều kiện không khí ô nhiễm như thế.

Tôi dừng xe rẽ vào mấy ḷ gạch đang hoạt động, lúc này đă gần 11 giờ trưa, cái nắng giờ trở nên rát bỏng. Điều khiến tôi bất ngờ là hầu hết người làm ở đây là phụ nữ. Rất thành thục và nhanh nhẹn, họ làm việc như quên rằng ḿnh là phận chân yếu tay mềm. Từ việc nhào trộn đất, lên khuôn, chuyển gạch phơi, cho vào ḷ đốt và cuối cùng cho ra gạch thành phẩm. Một chu tŕnh quay ṿng như phận đời cực nhọc của họ.

Để nguyên những giọt mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt, chị Nguyễn Thị T́nh (xóm 4, xă Nghi Vạn, huyện Nghi Lộc, Nghệ An) trần t́nh: “Mùa màng thất bát, chúng tôi xin đi làm phu gạch. Mỗi ngày quần quật gần 10 tiếng, cũng kiếm thêm đồng tiền mua gạo cho con các anh ạ!”. Hạn hán gay gắt, lúa chết rũ, không canh tác được đành bỏ hoang, những người phụ nữ chỉ c̣n biết bám vào mấy ḷ gạch để sống.

Mỗi ngày những người phụ nữ – phu gạch bắt đầu công việc từ lúc 5 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa, và kết thúc ngày làm việc lúc trời sẩm tối. Họ làm việc trong những chiếc ḷ nóng bức, ô nhiễm và đầy rẫy những nguy hiểm.

Nh́n lên cái cửa ḷ đốt được xây bằng đất bùn tôi chợt rùng ḿnh, bởi chỉ cần chạm nhẹ, gạch ở phía trên có thể rơi xuống đầu bất cứ lúc nào. Làm việc trong thời gian dài và trong điều kiện như vậy nhưng thu nhập của những phu gạch chỉ được 40.000 đến 50.000 đồng/người/ngày.

Công việc nặng nhọc này chỉ dành cho đàn ông khỏe mạnh, nhưng ở vùng quê chưa nắng đă hạn, chưa mưa đă ngập này thanh niên trai tráng trong làng rủ nhau lên thành phố hay vào Nam kiếm việc nên nghề phu gạch do phụ nữ đảm nhận.

Chị Trần Thị Khánh xóm 4, xă Nghi Vạn (Nghi Lộc) bày tỏ: “Mấy chủ ḷ gạch ở đây họ thích thuê phụ nữ v́ siêng năng, cần mẫn và không hay kêu ca phàn nàn. Với lại đàn ông họ đi làm phụ hồ, vào nam CCCP (cuốc cỏ cà phê), hay đi làm các công việc khác chứ mấy người chịu làm phu gạch. Như đă thành lệ rồi, giờ chỉ c̣n mỗi phụ nữ gắn bó với nghề này thôi!”.

Cả khu ḷ gạch này có 5 ḷ, mỗi ḷ có 30 phu làm việc thường xuyên. Trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em.

Phận đời cơ cực

“Nhiều hôm về không nuốt nổi cơm v́ mệt, muốn bỏ nghề nhưng nghĩ đến các con lại phải gắng gượng thôi. Cuộc đời ḿnh đă khổ phải để cho chúng nó không phải khổ như ḿnh nữa chứ”, chị Thủy vừa nói vừa thở dài.

Chị Nguyễn Thị Thủy, xă Nghi Vạn, (Nghi Lộc) năm nay đă ngoài 50 tuổi nhưng hàng ngày vẫn phải đi làm phu gạch. Gia đ́nh có tới 4 người con ăn học, chồng thương binh ốm đau luôn nên không thể làm việc nặng. Một ḿnh chị đảm đương hết mọi việc trong gia đ́nh vừa phải đi làm gạch lấy tiền công nuôi 4 con học đại học.

“Nhà có vài sào ruộng gặp thiên tai, sâu bệnh phá hoại, chẳng đủ ăn, không đi làm gạch lấy ǵ cho chúng nó ăn học?”, chị tâm sự. Hạnh phúc cho chị cả 4 người con đều ngoan, hai người đă ra trường đi làm và lập gia đ́nh.

Không may mắn như chị Thủy hoàn cảnh của chị Nguyễn Thị T́nh đội 4, xă Nghi Vạn,(Nghi Lộc) có phần éo le hơn. Chồng mất sớm v́ căn bệnh hiểm nghèo, một ḿnh chị phải nuôi hai con. “Nhà có mấy sào ruộng khoán làm chẳng đủ ăn nên đành phải chấp nhận đi gánh gạch”, chị T́nh ngậm ngùi.

Như hiểu sự mất mát và nhọc nhằn của mẹ, hai đứa con của chị biết động viên nhau học tập và giúp đỡ mẹ việc nhà. Nay đứa con đầu của chị đă đi học trung cấp mầm non ở tận miền Nam.

Cũng một ḿnh đứng mũi chịu sào nuôi con như chị T́nh nhưng hoàn cảnh của chị Trần Thị Lành, xóm Thọ Sơn, xă Nghi Vạn (Nghi Lộc) lại gặp nhiều bất hạnh. Chồng bạc t́nh, bạc nghĩa đă bỏ chị và hai đứa con thơ đi biệt xứ.

Trước khi đi chồng chị c̣n để lại cho chị một món nợ hơn 20 triệu đồng. Với những phu gạch ở đây số tiền này là cả một gia tài nên chị vừa phải nuôi con, vừa chắt bóp từng đồng trả nợ. “Chị em ở đây toàn người có hoàn cảnh khó khăn, nên ai cũng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn và dễ thông cảm cho nhau”, chị nói với giọng buồn buồn.

Trong đám phu gạch tôi bắt gặp một thiếu niên đang độ tuổi lớn. Năm nay chưa đầy 15 tuổi nhưng Nguyễn Thị Hằng đă gia nhập vào những người làm nghề phu gạch. Ở đây những em có độ tuổi như Hằng không ít, thậm chí có nhiều em c̣n nhỏ tuổi hơn. “Biết là vất vả nhưng để có tiền đi học nên em tranh thủ ra đây làm để kiếm tiền mua sách và đóng học”, Hằng nói.

Nh́n những người phụ nữ đang cặm cụi làm việc trong ḷ nung mù mịt bụi tôi lại nhớ đến vụ sập ḷ gạch làm 6 người chết ở Châu Can, Phú Xuyên, Hà Tây (cũ) vào buổi chiều định mệnh. Hầu hết khi được hỏi đến vụ việc này những phụ nữ ở đây đều không biết.

Nhưng với họ cũng không có ư định bỏ nghề khi nghe đến những cái chết thương tâm đó. Bởi một lẽ “Sống chết có số, với lại bỏ nghề lấy ǵ mà nuôi con. Đời ḿnh đă khổ th́ phải hi sinh cho đời con ḿnh đỡ khổ. Ông trời chắc không bắt thêm những người vất vả đâu”, Chị Lành nói với giọng buồn buồn như nỗi ḷng của những nữ phu gạch.

Tôi cũng mong lời của chị nói trở thành sự thật và mong cho cuộc đời họ sẽ có ngày mai tươi sáng, không mịt mù như những đám bụi xỉ than trong ḷ nung kia.

http://www.tienphong.vn/Phong-Su/511256/Phu-gach.html
DanTriVN
Làm sao thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh: “NẾU CHÍNH PHỦ LÀM HẠI DÂN TH̀ DÂN CÓ QUYỀN ĐUỔI CHÍNH PHỦ”?

Tống Văn Công

Sau bài viết “V́ sao Hồ Chí Minh đặt dân chủ trước giàu mạnh?”, tôi nhận được nhiều ư kiến bạn đọc trong, ngoài nước, hỏi v́ sao hiện nay cả nước đang liên tục rầm rộ tổ chức học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng những tư tưởng lớn của người rất cần cho sự nghiệp Đổi mới, cho cuộc sống nhân dân th́ lại không được học tập, vận dụng?

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một trong những nội dung cốt lơi về dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đă khẳng định một cách mạnh mẽ: "Nếu chính phủ làm hại dân th́ dân có quyền đuổi chính phủ” (HCM toàn tập, NXB Sự thật, tập 4, trang 283).

Đây là một nội dung có ư nghĩa then chốt ở một thể chế dân chủ, nó như lửa thử vàng để biết vàng thật hay vàng giả, ở đây là dân chủ thật hay dân chủ giả.

Có thể bạn sẽ hỏi liệu Chính phủ của chúng ta đă có những sai lầm ǵ "làm hại dân"?

Năm qua, Chính phủ có nhiều việc làm bị chỉ trích nặng nề như:

– Dung dưỡng các tập đoàn kinh tế làm ăn tùy tiện gây thất thoát lớn (hiện dư luận đang bức xúc về chỉ thị của Thủ tướng giải cứu sự sụp đổ của Vinashin).

– Quản lư kém làm cho nền kinh tế mất sức cạnh tranh (giá chi phí cho một đơn vị tăng trưởng cao gấp đôi, thậm chí gấp ba các nước Châu Á, Thái B́nh Dương).

– Cho nước ngoài vào khai thác bauxite Tây nguyên gây bất an về quốc pḥng và môi sinh; cho nước ngoài thuê rừng biên giới.

– Gần đây nhất là đề án đường sắt cao tốc bị toàn dân đặt ra nhiều nghi vấn...

Tuy nhiên tôi chỉ xin nêu ra đây một hiểm họa của đất nước: Tham nhũng – Giặc nội xâm!

Nếu chính phủ để t́nh trạng tham nhũng kéo dài và tăng lên vô hạn th́ có phải là đă mang tội "làm hại dân"?

Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Nhật bị mất chức chỉ v́ “nghe lén” và “không thực hiện được một lời hứa”. Ngày 5-7-2010, Thủ tướng Hàn quốc từ chức v́ đề án xây dựng một thành phố mới của ông đưa ra bị Quốc hội bác bỏ... So với người th́ các vị lănh đạo nước ta có lỗi nặng gấp nhiều lần, nhưng đă được xuê xoa quá mức, chính v́ thế mà không có sức răn đe để sửa chữa sai lầm!

Vậy t́m điều kiện để thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh “Nếu Chính phủ làm hại dân th́ dân có quyền đuổi Chính phủ” chính là t́m đơn thuốc hiệu quả trị được chứng nan y tham nhũng và nhiều khuyết điểm khác của hệ thống chính trị.

Bài viết này bắt đầu từ t́nh trạng tham nhũng; xác định chân tướng, nhân thân kẻ tham nhũng; phân tích nguyên nhân bất trị của tham nhũng; và cuối cùng là đề ra phương thuốc đặc trị tham nhũng. Phương thuốc ấy tạo ra điều kiện và khả năng thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Khuyến nghị quốc tế: kiểm soát quyền lực

Nghị quyết Đại hội 8 năm 1996 kết luận tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa đất nước.

Gần 10 năm sau, tham nhũng ph́nh to, câu kết nhau như thành như lũy, khiến nguyên Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Trần Bạch Đằng kêu gọi: “Nă đại bác vào tham nhũng!” (Báo Tuổi trẻ xuân) với những lời lẽ thống thiết. Ông nói: "Tham nhũng đang đe dọa sự phát triển kinh tế cùng đạo đức xă hội"!

Gần một năm sau, tại Hội nghị Trung ương 3/7/2006, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận định: "Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống c̣n của chế độ".

Ba năm sau nữa, ông Đặng Quốc Bảo – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng – miêu tả h́nh dáng tham nhũng nằm lồ lộ ở nước ta với hai đặc trưng: (1) Kinh tế ngầm lộng hành, mafia cộng với cán bộ thoái hóa; (2) Bộ máy công quyền hư hỏng, vô cảm, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, thiếu chuyên nghiệp, ít hiểu biết, xa rời nhân dân, dị ứng với dân chủ.

Các vị lănh đạo Việt Nam cho rằng Đảng đă rất quyết tâm chống tham nhũng, nhưng do luật pháp c̣n bất cập, năng lực quản lư yếu, cán bộ bị sa sút đạo đức trong cơ chế thị trường, các hoạt động chống tham nhũng chưa đồng bộ.

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp Việt kiều dịp Tết 2010 nói: “Ở nước người ta đó th́ muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, v́ cái hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. C̣n ở Việt Nam ḿnh th́ có khi không muốn tham nhũng cũng động ḷng tham".

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: "Có bốn nguyên nhân dẫn đến tham nhũng là: thể chế c̣n sơ hở, thủ tục hành chính rắc rối, phiền hà, tinh thần phê tự phê b́nh c̣n yếu, đặc biệt là vai tṛ của cấp ủy Đảng và người đứng đầu chưa được thể hiện" (Báo Tuổi trẻ ngày 13-1-2008).

Liệu những nguyên nhân mà các vị lănh đạo Việt Nam nêu ra đă đủ chưa?

Năm 2009, chương tŕnh Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một công tŕnh nghiên cứu quan trọng về vấn đề tham nhũng ở Việt Nam và đă trao kết quả công tŕnh cho Chính phủ ta. Công tŕnh này nêu rơ h́nh tướng của tham nhũng ở Việt Nam. Xin tóm lược:

- Do kinh tế tăng trưởng cho nên dù cho nạn tham nhũng đang tràn lan vẫn ít được đề cập. Tham nhũng hủy hoại dần tính chính danh của chế độ.

- Nông dân biểu t́nh chống tham nhũng đất đai gia tăng, doanh nhân bực dọc nạn nhũng nhiễu gia tăng.

- Nền kinh tế tự do hóa, nhưng vai tṛ quản lư của Nhà nước không giảm đă tạo điều kiện cho tham nhũng.

- Tham nhũng xảy ra dưới 3 h́nh thức: Hối lộ – c̣n gọi là "bôi trơn"; tư nhân hóa bất hợp pháp tài sản Nhà nước trong chính sách cổ phần hóa; mua bán quyền lực.

- Quan hệ mờ ám giữa cán bộ chính trị và doanh nhân được gọi là "doanh nghiệp sân sau", "công ty gia tộc", “thế lực đen móc ngoặc với các phần tử biến chất trong bộ máy cầm quyền".

- Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng thực thi kém hiệu quả việc chống tham nhũng là do luật pháp bất cập, đạo đức suy đồi trước kinh tế thị trường. Thực ra đó chỉ là những yếu tố liên quan, chứ không phải vấn đề trung tâm của tham nhũng.

Tham nhũng ở Việt Nam thực chất là một vấn đề mang tính hệ thống.

Biểu hiện của tính hệ thống là: Tham nhũng vận hành phổ biến, b́nh thường, không phải biệt lệ, không thể tiến hành công việc nếu không chịu dính với tham nhũng! Hầu hết những người vốn là tốt,nhưng khi nằm trong guồng máy họ cũng phải chấp nhận tham nhũng để tồn tại.

- Các văn bản pháp lư ở Việt Nam thường thiếu rơ ràng và chồng chéo. Không phải người soạn thảo kém, mà do hệ thống đ̣i hỏi phải như vậy để dễ dàng lạm dụng quyền lực, tham nhũng. Đó là tác động của các nhóm lợi ích có quyền lực lớn. Bà Phạm Chi Lan – nguyên tư vấn Văn pḥng Chính phủ phát biểu trong cuộc Hội thảo hồi tháng 3/2009 cho rằng đó là cách các nhóm lợi ích “cài cắm lợi ích cục bộ khi soạn thảo luật, cơ chế”.

- Xu thế coi công quyền như công cụ làm giàu, nên tệ nạn mua quan bán chức tràn lan. Tập tục “một người làm quan cả họ được nhờ” đang sống lại.

- Lương thấp, đạo đức xuống cấp chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Không làm rơ các quy định được, chừng nào cái “logic” đang chi phối hệ thống vẫn tồn tại.

Nâng cao tính minh bạch và kiểm soát quyền lực bộ máy công quyền là khuyến nghị mấu chốt của UNDP.

Nâng cao tính minh bạch gồm: công khai tài liệu thanh tra; nâng cao tính độc lập của thanh tra, của hoạt động ṭa án, của cơ quan giám sát; coi trọng giải quyết tố cáo của dân; nâng cao vai tṛ xă hội dân sự, các cơ quan truyền thông giám sát hoạt động của nhà nước, khuyến khích công dân tố giác, khuyến khích báo chí dám đứng ra điều tra tham nhũng.

Để làm rơ thêm bộ mặt của tham nhũng, xin nghe bà Lê Hiền Đức (tên thật là Phạm Thị Dung Mỹ) sinh năm 1932, giáo viên nghỉ hưu, người được Tổ chức Minh bạch quốc tế tặng Giải thưởng Liêm chính năm 2009 kể:

“Các cấp trung gian nó bao che cho nhau, bảo kê cho nhau ḿnh không thể cựa được. Tôi nhận đơn từ của nhân dân 63 tỉnh thành tố cáo đủ các mặt, đất đai nhà cửa... Thanh tra Nhà nước đă đến [nhà tôi] chở đi hồ sơ 214 vụ rồi, nhưng chưa thấy thông báo việc này việc kia được giải quyết. Có người đi kiện lúc 27 tuổi tới năm 54 tuổi mà vẫn chưa được giải quyết! Ông Bí thư quận Cầu Giấy có biết bao tội, là kẻ bảo kê cho bà Hiệu trưởng tham nhũng. Tôi báo cáo việc này với ông Bí thư Thành ủy Hà Nội th́ hai tháng sau được tin ông quận này đă được chuyển công tác… Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”!

Tham nhũng ở Việt Nam năm 2008 được Tổ chức Minh bạch toàn cầu xếp ở đầu trong nhóm 1/3 nước cuối bảng xếp hạng. Chỉ số thứ hạng từ năm 1997 - 2008 hầu như không đổi: 2,8; 2,6; 2,7. So sánh với các nước trong vùng th́ điểm số của Việt Nam khá hơn Indonesia 5 bậc, hơn Philippines 20 bậc, xấu hơn Thái Lan 41 bậc, Trung quốc 49 bậc, Malaysia 74 bậc, Hongkong 109 bậc, Singapore 117 bậc. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn Rủi ro chính trị, kinh tế (PERC) xếp Việt Nam là nước tham nhũng đứng thứ 3 Châu Á, chỉ khá hơn Indonesia và Campuchia, tụt lại sau Philippines. Chỉ số minh bạch về thị trường bất động sản th́ Việt Nam xấu hơn Indonesia 22 bậc, Philippines 29 bậc, Thái Lan 31 bậc, Malaysia 54 bậc, Singapore 68 bậc.

2. Tham nhũng là ai?

Tham nhũng là hành vi của kẻ có chức quyền.

Ngày xưa là quan lại. Do đó, Luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông có 40 điều chống tham nhũng (trong tổng số 722 điều) đều là dành cho quan lại chứ không phải cho thứ dân.

Ngày nay, kẻ tham nhũng là viên chức trong hệ thống cầm quyền. Tham nhũng nhỏ xảy ra ở người có chức quyền nhỏ. Tham nhũng lớn ở người có chức quyền lớn. Tuy không có quy định thành văn nhưng trong thực tế từ cán bộ cấp trưởng ấp, trưởng khu phố đến phó trưởng pḥng của phường xă, đều phải là đảng viên. Do vậy bệnh tham nhũng trong thực tế lại chính là bệnh của đảng viên từ thôn ấp cho tới những cơ quan cao nhất! Nhiều đảng viên không làm công tác chính quyền, nhưng với cơ chế Đảng lănh đạo toàn diện, họ có điều kiện tham nhũng c̣n hơn cả viên chức chính quyền. Vậy tham nhũng là bệnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị.

Xin nêu ra đây một số nhận định của các nhà nghiên cứu về tham nhũng ở nước ta.

Giáo sư Yoshiharu Tsuboi người Nhật Bản – là nhà Việt Nam học có nhiều công tŕnh sâu sắc – đă nói như sau về tham nhũng ở Việt Nam:

– “Tham nhũng ở Việt Nam không đơn thuần là vấn đề đạo đức mà là cơ cấu trong tổ chức, để loại được tham nhũng phải cải thiện lớn cơ cấu tổ chức và quản lư tài chính”.

– “…Khó thúc đẩy t́nh h́nh nếu như không có một số lợi nhuận cho các đảng viên và cán bộ chính quyền. V́ vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm ngơ ở mức độ nhất định trước vấn đề biển thủ hoặc tham nhũng của họ”.

– “...Số lượng tham nhũng quá đông, nếu toàn bộ các vụ tham nhũng bị lật tẩy th́ hệ thống hành chính có nguy cơ ngừng hoạt động, thậm chí dẫn tới khủng hoảng chính trị. Do vậy nếu khoản tiền tham nhũng không cao quá mức và được chia đều cho những người dính líu th́ chính quyền để yên cho họ”.

– “…Tham nhũng ở Việt Nam có thể tóm gọn là “Ai lại sợ đèn đỏ, khi tất cả đều vượt đèn đỏ”!

– “...Hệ thống được thành lập theo kiểu khi bên trong xuất hiện có người có khả năng phản đối tham nhũng th́ tham nhũng sẽ được dùng làm lư do để loại bỏ người đó”.

– “...Bằng cơ cấu nuôi dưỡng tham nhũng, nhà cầm quyền đặt gần như toàn bộ người dân vào vị trí tội phạm tiềm năng, với cung cách phán xử tùy tiện, những ai làm mất ḷng hệ thống tham nhũng có thể bị trừng phạt đúng theo pháp luật”!

Giáo sư Carl Thayer người Úc, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam có uy tín trên thế giới, cũng có bài viết về tham nhũng ở Việt Nam. Nhận xét các vụ án tham nhũng lớn như PMU 18, Đại lộ Đông - Tây, giáo sư nhận định: “Các vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam có trung tâm bảo trợ của những hệ thống quyền lực gồm những đảng viên cao cấp và gia đ́nh họ, và ngay trong luật lệ... Khi tham nhũng bị phơi bày, chúng đều được chỉ đạo giải quyết từ “bên trong cánh cửa”.

...“Trong ṿng 5 năm có 12 ủy viên Trung ương bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, nhưng rất ít vụ bị đưa ra ṭa. Qua hai kỳ Đại hội, 12 năm, tham nhũng đă tăng nhiều hơn. Nguyên nhân là do Đảng cộng sản Việt Nam chống thực hiện tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp, tư pháp) mà nắm trọn, kiểm soát cả ba quyền này”.

Các tác giả Lê Đăng Doanh, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Hoàng Ngọc Giao... cũng có những bài viết miêu tả rơ nét khuôn mặt tham nhũng đang ngự trên chiếc ghế quyền lực của đất nước. Những đảng viên c̣n giữ ḷng tự trọng hẳn sẽ luôn cảm thấy căm giận và xấu hổ!

3. “Tham nhũng nă đại bác vào Đảng”

Chúng ta đều biết rằng chủ nghĩa Mác – Lênin không có khái niệm Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa mà chỉ có các h́nh thức Nhà nước chuyên chính vô sản được "vận dụng sáng tạo thích hơp với thực tiễn của mỗi quốc gia".

Nhà nước xă hội chủ nghĩa là Nhà nước tập quyền và Đảng hóa. Trong một bài nói ở Hội nghị Trung ương khóa 3, ông Lê Duẩn cũng cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô không coi trọng nhà nước.

Thật ra các nhà nước toàn trị đều đặt Đảng trên nhà nước, nghị quyết Đảng cao hơn pháp luật.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường phân tích nguyên nhân chính gây ra sai lầm lớn của cải cách ruộng đất ở Việt Nam là không dùng luật pháp mà dựa vào đấu tố. V́ nhận định đúng đắn ấy mà ông bị sa thải. Sau Đổi mới, cùng với sự hội nhập quốc tế, khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật” mới được xuất hiện.

Măi đến 29/11/1991, tại Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Tổng Bí thư Đỗ Mười với tư duy bị trói bởi ư thức hệ đă khiên cưỡng lắp ghép từ “xă hội chủ nghĩa” vào "nhà nước pháp quyền”. Hơn 15 năm sau, tháng 4/2006, nghị quyết Đại hội 10 của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra nội dung: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và các quyết định của các cơ quan công quyền”.

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đă thắc mắc rằng: kiểm tra, giám sát được đặt riêng ra như vậy, không rơ là nó nằm bên trong hay nằm ngoài hệ thống quyền lực nhà nước?

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh công bố nội dung học thuyết Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa trong bài diễn văn ở phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 12, ngày 19/7/2007. Nhiều nhà lănh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đă viết bài lư giải học thuyết mới mẻ này.

Với cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, ông Trần Đức Lương có bài viết đăng trên tạp chí Cộng sản số 1 năm 2007 với tựa đề: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa của dân, do dân, v́ dân, ngày càng trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của Đảng, nhà nước và nhân dân ta”. Xin trích ra đây một nội dung cơ bản:

“Một trong những điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa của dân, do dân, v́ dân là quyền lực Nhà nước thống nhất trên cơ sở phân công và phối hợp trong việc thực hiên quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể hiểu rằng sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực Nhà nước. Sự lănh đạo của Đảng cũng nhằm đảm bảo cho sự phân công và phối hợp được thông suốt, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đưa cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống”.

Các nhà nghiên cứu lư luận Việt Nam viết nhiều bài dẫn giải nội dung học thuyết Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa, đưa ra những khái niệm lạ lẫm như “tam quyền phân hợp", "tam quyền phân hợp giám". Nói chung, những khái niệm phân lập, đối trọng không được phép đặt ra. .

GS. TS. Tô Xuân Dân và cán bộ Mặt trận Tổ quốc Trung ương Nguyễn Thanh B́nh có bài viết chung nhan đề “Xây dựng nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa của dân, do dân, v́ dân dưới sự lănh đạo của Đảng” (Tạp chí Cộng sản số 1/2007). Hai ông đưa ra 7 vấn đề có tính nguyên tắc để thực hiện đúng đắn Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa. Đọc dẫn giải 7 vấn đề thấy hai ông là những lư thuyết gia chính trị hơn là nhà luật học. Tôi đặc biệt chú ư đoạn văn sau đây của hai ông:

“...Vấn đề là ở chỗ, bản chất của Đảng cầm quyền thế nào, mục tiêu chính trị của nó có phải v́ lợi ích chung của dân tộc, v́ con người hay không và do đó có sẵn sàng tuân theo những quy định của pháp luật hay không; có đủ phẩm chất đạo đức để vượt qua các cám dỗ quyền lực to lớn mà một Đảng cầm quyền duy nhất có nhiều khả năng gặp phải hay không và nó có tự đặt ra và thực hiện được những lề luật nghiêm khắc cho chính ḿnh hay không?”.

Nêu ra nội dung trên hai ông không nhằm cảnh báo nguy cơ đối với Đảng mà ngay sau đó đưa ra khẳng định: “Thực tiễn phát triển của xă hội ta, đất nước ta xác nhận và khẳng định vai tṛ lănh đạo của Đảng. Hơn 74 năm qua Đảng thể hiện tập trung ư chí nguyện vọng và trí tuệ của toàn dân tộc”. Hai ông tin rằng: “Hoàn thiện những cơ sở pháp lư đó sẽ giúp tránh được bao biện, làm thay hay can thiệp không đúng nguyên tắc của cấp ủy và cán bộ Đảng vào công việc của chính quyền mà có thời kỳ nhiều nơi đă mắc phải”.

Thực tiễn đất nước 3 năm qua đă bác bỏ nhận định nói trên của hai ông, và chứng minh rằng số đông đảng viên cộng sản không thể “vượt qua các cám dỗ quyền lực to lớn”!

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm trong bài “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11/2009 đă nêu ra nhiều điều c̣n băn khoăn. Đặc biệt là đoạn văn sau:

“...Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lăng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xă hội ta,càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hổng và yếu kém nhất trong cơ chế hệ thống tam quyền của Nhà nước, phải được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể chế”.

Tuy nhiên, Dự thảo Văn kiện tŕnh Đại hội 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực Nhà nước vẫn na ná như nội dung văn kiện Đại hội 10: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó”.

Thực tế hiểm họa “nội xâm”của đất nước đă chứng tỏ sự “liệt kháng” của thể chế phân công ba quyền thống nhất dưới sự lănh đạo của Đảng. Xin dẫn chứng thêm hai câu chuyện:

(1) Cách đây 15 năm, ngày 16/11/1993, Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đ́nh Lộc trả lời phỏng vấn báo Lao động về việc “phải cấp bách cải cách Tư pháp để chấm dứt tệ nạn “thư tay gửi ṭa án” và “những bản án bỏ túi” trước khi ṭa xử. Cơ quan Nhà nước cũng như công chức Nhà nước khi thực thi công vụ phải trong khuôn khổ pháp luật và họ có thể bị kiện trước ṭa nếu gây hại cho dân”.

Sau 15 năm cấp bách cải cách Tư pháp như ông Lộc nói, hiện trạng của quyền Tư pháp được thể hiện trong vụ án bà Ba Sương ở Cần Thơ là thế này:

UBND thành phố Cần Thơ có công văn số 1575/UBND -NC ngày 25/3/2008 nội dung: “Thực hiện ư kiến kết luận của thường trực Thành ủy tại Thông báo số 91-TB/VPTU ngày 20/8/2008, Chủ tịch UBND thành phố có ư kiến chỉ đạo như sau: Sau khi Thanh tra Thành phố chuyển một số nội dung sai phạm của Nông trường Sông Hậu sang Cảnh sát điều tra th́ tổ chức họp báo, công khai với báo chí...”. Cơ quan Tư pháp các cấp đều không có phản ứng ǵ về cách chỉ đạo ấy, chỉ có nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt gửi thư phản đối: Tôi không rơ có những lư do ǵ bên trong mà cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố vụ án? Việc này phải do cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát tiến hành chứ? (Có tin “lư do bên trong” mà cụ Vơ Văn Kiệt hỏi là lănh đạo Cần Thơ muốn t́m cớ để thu hồi đất của Nông trường Sông Hậu cho một dự án lớn!).

Như vậy là tệ nạn “thư tay”, “bản án bỏ túi” kiểu du kích thời Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đ́nh Lộc ngày nay đă được chính quy hóa thành những Công văn, Thông báo rất ngang nhiên!

(2) Ngày 19/9/1997, Thủ tướng Chính phủ có công văn số 4678/QT1 “chuyển khu dân cư ở số 2 Thụy Khuê, Hà Nội. Văn pḥng Chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu đất phía sau khách sạn La Thành cho các hộ dân ở đó tái định cư”. Ngày 6/9/1998, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn pḥng Chính phủ có quyết định số 498/QĐ-VPCP phê duyệt phương án bố trí diện tích đất cho từng hộ gia đ́nh, nhưng danh sách này thiếu 11 hộ, trong đó có bốn hộ do các ông bà Nguyễn Xông Pha, Chu Quang Biên, Lê Lục Công, Trần Minh Hồng làm đại diện. Văn pḥng Chính phủ có công văn 6403/VPCP-QT1 giao cho UBND quận Tây Hồ bố trí tái định cư cho 4 hộ dân nói trên. Bốn hộ dân này t́m hiểu biết rằng Văn pḥng Chính phủ làm trái công văn Thủ tướng, cốt để thừa ra 233 m2 đất ở một ví trí đắc địa xây chung cư đưa ra bán giá cao cho 15 hộ dân không thuộc khu nhà số 2 Thụy Khuê. Ngày 21/9/2009, bốn hộ dân nói trên làm đơn khiếu nại gửi Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn pḥng Chính phủ, nhưng không được Bộ trưởng giải quyết. Ngày 2/11/ 2009, bốn hộ dân làm đơn gửi Ṭa án nhân dân Hà Nội. Ṭa án nhân dân Hà Nội thông báo trả lại đơn với lư do “Không thuộc thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án hành chính tại Ṭa án”. Bốn hộ dân khiếu nại Ṭa án Hà Nội nhận lại đơn kiện, nhưng không được. Ngày 29/12/2009, bốn hộ dân gửi đơn kiện lên Ṭa án nhân dân Tối cao. Ṭa án nhân dân tối cao im lặng. Bốn hộ dân cầu cứu luật sư Cù Huy Hà Vũ. Luật sư Cù Huy Hà Vũ gửi hồ sơ vụ này lên Ủy ban Tư Pháp của Quốc hội. Và vụ việc được... nằm yên trên đó!

Vụ này không lớn, nhưng sự ách tắc của nó chứa 3 điều đáng suy ngẫm:

1/ Nó dính líu đến nhiều bộ luật: Luật đất đai, Luật khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Ṭa án nhân dân tối cao...

2/ Nó liên quan đến ba nhánh quyền lực nhà nước là hành pháp, tư pháp, lập pháp mà không giải quyết được.

3/ Nó liên quan trách nhiệm của các Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Thủ tướng, Bộ trưởng, Chánh án ṭa tối cao, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật mà vẫn bị tắc!

Điều ấy đủ để nói lên rằng, công thức pháp quyền xă hội chủ nghĩa hiện hành có nhược điểm lớn nhất là trao cho Đảng trực tiếp lănh đạo cả ba quyền lực Nhà nước, tạo t́nh thế Đảng đứng trên pháp luật. Nhà tư tưởng Montesquieu từng cho rằng, khi quyền lực tập trung vào một mối, dù là một người, hay một tổ chức th́ nguy cơ chuyên chế vẫn c̣n. Rơ ràng pháp quyền xă hội chủ nghĩa không tạo sức mạnh và uy tín cho Đảng mà nó tạo ra nguy cơ, tôi muốn dùng cách nói của ông Trần Bạch Đằng: “Hằng phút, hằng giờ tham nhũng nả đại bác vào Đảng”! Trong khi Đảng th́... ngay một nhà lư luận lớn của Đảng như Giáo sư Tiến sĩ Mạnh Quang Thắng cũng phải rầu buồn: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn c̣n một bộ phân không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng...”.

4. Phải tam quyền phân lập mới có “thần linh pháp quyền”

Gần đây có nhiều bài viết tán dương việc cải cách tư pháp theo hướng không để ṭa án ở cùng với cấp hành chính, cho rằng như vậy sẽ tránh được cơ quan hành pháp can thiệp vào việc xét xử của ṭa án, và từ đó sẽ có tư pháp độc lập. Có đúng vậy không? E rằng những người nêu ư kiến này mới nh́n sự thật ở một nửa! Cần thẳng thắn đặt ra và bàn bạc thấu đáo trước thềm Đại hội 11 của Đảng là: Đảng có nên lănh đạo tư pháp theo kiểu cầm tay chỉ việc như vậy hay không? Sự lănh đạo của Đảng đối với quyền Tư pháp nên theo cách nào?

Mới đây, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An có bài trả lời rất hay phỏng vấn của Thu Hà trên VietNamNet về việc sửa đổi Hiến pháp. Ông nói: “C̣n quyền lực của cơ quan tư pháp th́ sao? Trong thực tiễn th́ nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp, và c̣n bị chi phối trong xét xử”.

Vậy ai chi phối? Và để chi phối được tư pháp, họ có cần phải ở cùng một cấp hành chính hay không? Nếu họ ở trên một cấp, hoặc trên hai, ba cấp hành chính, ở tận Hà Nội th́ họ có thể chi phối được ṭa án ở các tỉnh thành phía Nam hay không?

Mặc dù rất dè dặt khi phân tích những nguyên nhân yếu kém của quyền tư pháp, Tiến sĩ Hồ Bá Thâm cũng đă nêu ra một ư kiến rất đáng suy nghĩ về sự lănh đạo của Đảng đối với quyền tư pháp: “Hơn nữa, khi đường lối của Đảng đă được cụ thể hóa thành Hiến pháp th́ Hiến pháp là cao nhất chứ không phải Đảng cầm quyền khi thực thi quyền lực Nhà nước”.

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đă chỉ đúng chỗ mắc mứu lớn chính là v́ học thuyết Pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam đă đặt “việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Lẽ ra sự lănh đạo của Đảng chỉ nhằm đưa ra quan điểm lớn là: “Phải làm thế nào để thực hiện cho được quyền tư pháp độc lập, thượng tôn pháp luật, không chấp nhận bất cứ sự chi phối nào ngoài pháp luật”.

Với tinh thần nói thẳng, nói thật có từ Đại hội 6 - Đổi mới, nhưng từ đó đến nay không được nuôi dưỡng tốt, tôi muốn tiếp lời Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đặt ra câu hỏi vốn rất kiêng kỵ này: Tại sao chúng ta không chấp nhận tam quyền phân lập? Đó là kết tinh tư tưởng cao cả của các hiền triết thời cổ đại từ Platon, Aristotle cho đến các nhà tư tưởng thế kỷ 18 như Lock, Montesquieu, J.J. Rousseau, Kant, Hegel... đă trở thành tài sản vô giá của toàn nhân loại trong tiến tŕnh tranh đấu t́m đến Dân chủ - Tự do. Chính Marx, Engels lúc cuối đời cũng chấp nhận các phương pháp đấu tranh nghị trường trong thể chế của Nhà nước pháp quyền. Cương lĩnh của Quốc tế xă hội dân chủ do Engels sáng lập đă được phát triển và vận dụng ở nhiều nước, có xây dựng Nhà nước tam quyền phân lập, đưa các quốc gia ấy trở thành dân chủ, giàu mạnh. Sự nghiệp Đổi mới của chúng ta thực ra cũng đă vận dụng nhiều bài học của chủ nghĩa xă hội dân chủ, rất tiếc lại không vận dụng bài học xây dựng Nhà nước theo Tam quyền phân lập!

Tại sao? V́ sợ mất đi tính thống nhất của quyền lực Nhà nước chăng? Không đúng! Tính thống nhất của Nhà nước chính là lư tưởng của dân, do dân, v́ dân. Một nền tư pháp độc lập mạnh mẽ sẽ kiềm chế được sự lạm quyền của hành pháp, hoặc sự vi hiến của lập pháp, sự bạc nhược của tư pháp th́ đó mới là bảo vệ thành công sự thống nhất lư tưởng xây dựng một nhà nước của dân, do dân, v́ dân!

Sợ mất đi trách nhiệm “phân công quyền lực”? Ai phân công? Các nghị quyết của Đảng đều dùng từ “phân công”. Bài viết của nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng dùng từ “phân công quyền lực”. Tuy không nói rơ chủ thể phân công, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam lănh đạo Nhà nước th́ mặc nhiên phải hiểu rằng Đảng phân công ba quyền lực Nhà nước. Đúng ra, phải dùng từ phân quyền (decentralize) vốn là một thuật ngữ đă phổ biến thế giới về nhà nước pháp quyền. C̣n từ phân công (to divide the work) là để chỉ việc phân chia lao động như phân công lao động theo ngành, giới tính, vùng đất, phân công lao động quốc tế... Có ư kiến cho rằng từ “phân công” tỏ ra nhẹ nhàng hơn "phân quyền" (Tiến sĩ Hồ Bá Thâm). Nhưng ở đây điều cần đạt tới không phải là cảm giác "nặng”hay "nhẹ”mà rất cần đạt được sự chính xác của thuật ngữ quốc tế giữa thời hội nhập toàn cầu.

Sợ mất sự “phối hợp”, tạo nên “sức mạnh tổng hợp” vốn là truyền thống? Xin thưa, các lư thuyết phân quyền chỉ nhấn mạnh kiềm chế, kiểm soát, đối trọng. Nếu muốn nói đến sự phối hợp th́ cũng có thể t́m thấy được: Khi cả ba quyền kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau sẽ bật lên một sức mạnh tổng hợp kéo nhà nước đang ở trên đầu nhân dân, phải hạ xuống nằm bên dưới luật pháp!

Sao lại kiêng kỵ tam quyền phân lập đă có mầm mống hằng ngàn năm, được hoàn chỉnh hằng trăm năm, tạo ra sự phân quyền cân bằng và độc lập giữa ba quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp,Tư pháp), quyền lực này kiểm soát, kiềm chế quyền lực kia, tránh xảy ra lạm quyền, chuyên quyền, độc quyền, đảm bảo cho sự tự do chính trị của Nhà nước được lập nên từ quyền lực nhân dân?

Sợ thực hiện tam quyền phân lập sẽ làm cho ba quyền ấy vuột khỏi tầm tay lănh đạo của Đảng? Rất sai! Trước hết, nó làm cho chúng ta có một Nhà nước dân chủ đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại. Xu thế thời đại là: Pháp luật đứng trên Nhà nước. Chính quyền phục vụ nhân dân chứ không phải hành dân. Chính phủ có trách nhiệm t́m chính sách phù hợp để phát triển đất nước nâng cao phúc lợi nhân dân và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Người dân được làm mọi việc mà luật pháp không cấm, c̣n chính quyền chỉ được làm đúng theo quy định của pháp luật. Quốc hội chỉ tuân thủ Hiến pháp lập nên từ ư chí, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân. Quốc hội không giơ tay theo nghị quyết đă có sẵn, để bị mang tiếng là nghị gật!

Hệ thống tư pháp độc lập ngăn chặn những việc làm sai trái của hành pháp và lập pháp gây hại cho quyền lợi và tự do của công dân. Ṭa án độc lập xét xử mọi tranh chấp và mâu thuẫn xă hội theo luật pháp và chỉ tuân theo luật pháp, cho nên được coi là “thành tŕ của tự do”. Hôm qua, 6/7/2010, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói với Hội nghị cải cách tư pháp, dặn rằng việc đầu tiên là phải bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ ṭa án trong sạch, vững vàng. E rằng điều ông dặn chỉ là vấn đề thuộc vào thứ yếu.

Lịch sử xây dựng quyền tư pháp của nhân loại đă chứng tỏ rằng, Bao Công chỉ xuất hiện được từ cơ chế. Cơ chế mới là vấn đế số một, vấn đề đầu tiên! Cơ chế tam quyền phân lập, dùng quyền lực hạn chế quyền lực, sẽ buộc được các Tổng Bí thư, Thủ tướng cũng như phó thường dân khi ṭa gọi phải nhanh chóng kíp hầu ṭa. Không c̣n chuyện Ṭa án Hà Nội, rồi cả Ṭa án tối cao đều bó tay không gọi nổi Thủ tướng! Như vậy có làm giảm quyền lănh đạo của Đảng? Không! Vụ Quốc hội bác bỏ dự án Đường sắt cao tốc vừa qua đă làm cho nhân dân tin Đảng đă tôn trọng ư dân, đă có thêm động lực để “Đảng phải gần dân, hiểu biết dân, học hỏi dân” (Hồ Chí Minh). Nhân dân sẽ thấy Nhà nước của dân, do dân, v́ dân không phải chỉ ở khẩu hiệu mà đă là sự thật nh́n thấy. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhận được thêm năng lực mới. Quyền Tư pháp độc lập sẽ góp một trong những sức mạnh lớn nhất tẩy trừ tham nhũng. Đảng thải loại được lũ sâu mọt thoái hóa đang ẩn náu trong hàng ngũ của ḿnh. Đảng viên sẽ gồm những người liêm khiết trong mắt của nhân dân. Hồ Chí Minh nói “chống tham ô lăng phí quan liêu là dân chủ”, có ư nghĩa như vậy. Nhân dân sẽ công nhận Đảng tích cực đổi mới toàn diện, từ đó mà tính chính danh được nâng lên.

“Nếu Chính phủ làm hại dân th́ dân có quyền đuổi Chính phủ”! Với tam quyền phân lập, “trăm điều phải có Thần linh pháp quyền” (Hồ Chí Minh), tư tưởng ấy sẽ hiện diện trong đời sống, nâng cao quyền dân, làm trong sạch Đảng, tăng cường sinh lực Nhà nước. Há chẳng phải là một việc cấp bách mà Đại hội Đảng rất cần quan tâm?

Đến đây, xin dùng một danh ngôn đă có sức sống 2500 tuổi của nhà hiền triết Platon thay cho lời kết: “Tôi nh́n thấy sự sụp đổ nhanh chóng của Nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. C̣n ở nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật th́, ở đó tôi thấy có sự cứu thoát của Nhà nước”.

T. V. C

http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/lam-sa...ong-ho-chi.html
DanTriVN
Không thể có quyền lực chính đáng nếu dân không tin

Ông vua ngày xưa nhận quyền uy từ thiên mệnh. Nhà nước ngày nay nhận tính chính đáng từ sự thỏa thuận của dân. Dân thỏa thuận v́ dân tin cậy. Người cầm quyền nhận một nhiệm vụ mà dân giao phó để thực hiện một mục tiêu mà hai bên thỏa thuận trong sự tin cậy lẫn nhau. Tin cậy là gốc của quyền lực.

LTS: Theo GS Cao Huy Thuần, tin cậy là nền tảng của xă hội, là gốc của quyền lực và không thể có một quyền lực chính đáng nếu quyền lực đó vô trách nhiệm. Đây là vấn đề thuộc về khoa học tổ chức đang được nhiều học giả bàn thảo. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết bàn về Niềm Tin của ông để mọi người cùng thảo luận.

Tin cậy là gốc của quyền lực

Ai cũng biết tin cậy là nền tảng của xă hội. Không có tin cậy th́ không c̣n bất cứ giao tiếp nào giữa người với người, và do đó cũng không c̣n xă hội.

Không có tin cậy giữa vợ với chồng, cha với con, th́ gia đ́nh tan nát. Không có tin cậy giữa thầy với tṛ th́ giáo dục vô hiệu. Không có tin cậy ở đồng tiền th́ kinh tế khủng hoảng. Không có tin cậy ở đất nước, người dân vượt biên. Ai cũng biết vậy, nhưng phải đợi đến Locke (1632-1704) tin cậy mới đi vào lư thuyết chính trị để cắt nghĩa nguồn gốc của quyền lực.

Do đâu quyền lực được xem như chính đáng? Locke trả lời: từ sự tin cậy của người dân. Sự tin cậy đó cắt nghĩa tại sao con người từ bỏ t́nh trạng hoang dă ban sơ để lập nên một uy quyền chính trị mà ngày nay ta gọi là Nhà nước. Trong t́nh trạng ban sơ, chỉ có cá nhân với cá nhân, tổ chức đoàn thể duy nhất là gia đ́nh. Giữa cá nhân và cá nhân, ai cũng tự do, muốn làm ǵ th́ làm, ai cũng b́nh đẳng, ai cũng tự lo bảo vệ sinh mạng, tài sản, ai cũng tự ḿnh giải quyết xung đột, ai cũng dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Thế nhưng trên đầu vẫn có một thứ luật, luật tự nhiên, mà con người tự biết chẳng cần ai dạy, v́ đă là người th́ ai cũng có lư trí bẩm sinh.

Lư trí dạy: xâm phạm tính mạng của người khác th́ người khác xâm phạm tính mạng của ḿnh. Xâm phạm tài sản của người khác th́ của cải của ḿnh cũng bị xâm phạm lại. Vậy th́, đừng ai xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, tài sản của ai. Luật đó là luật tự nhiên, luật sinh tồn hỗ tương, có qua có lại. Vấn đề là: nếu luật đó bị vi phạm th́ sao? Kẻ yếu làm sao tự xử? Yếu làm sao xử được mạnh? Mà kẻ mạnh nào lại không có đứa mạnh hơn ở trên đầu? Chính v́ vậy, v́ thiếu một tổ chức để phân xử, mà con người chấm dứt t́nh trạng ban sơ để bước qua t́nh trạng xă hội có tổ chức. Bước qua như vậy không phải để sống, mà để sống tốt hơn.

Với thời đại gần đây, lư do đó lại càng rơ hơn nữa. Đồng tiền xuất hiện, kinh tế trao đổi bước qua kinh tế tiền tệ, xă hội phải được tổ chức chặt chẽ. Với đồng tiền, con người có khuynh hướng để dành, tích lũy. Từ đó, bất b́nh đẳng tăng lên, tăng măi, đến mức con người không thể ngủ yên nếu tài sản không được một tổ chức bảo vệ: tổ chức ấy là tổ chức chính trị, là Nhà nước.

Vậy th́, con người thành lập tổ chức chính trị để tránh nguy hiểm của bất an ninh, để tự do, để tài sản được bảo vệ. Muốn vậy, mỗi người phải từ bỏ quyền tự ḿnh hành xử luật tự nhiên và trao quyền đó cho một tổ chức độc lập, đứng trên mọi cá nhân: đó là cái hợp đồng xă hội cơ sở. Quyền lực của tổ chức chính trị bắt nguồn nơi sự từ bỏ đó của mọi người. Nhưng, khác với các nhà tư tưởng khác, Locke không xem sự từ khước đó là vô giới hạn. Bởi vậy, quyền lực của tổ chức chính trị chỉ rộng đến mức cần thiết, vừa đủ để đạt mục tiêu của xă hội, tức là hạnh phúc của con người và an ninh của tài sản. Tổ chức chính trị đó thu hẹp tự do và tài sản mà con người có trong t́nh trạng ban sơ, nhưng không triệt tiêu. Đó là điểm mấu chốt trong Locke.

Có thế con người mới tự nguyện, thỏa thuận, bước vào xă hội chính trị, chấp nhận uy quyền của Nhà nước. Không có sự thỏa thuận đó, uy quyền chính trị sẽ không chính đáng. Ông vua ngày xưa nhận quyền uy từ thiên mệnh. Nhà nước ngày nay nhận tính chính đáng từ sự thỏa thuận của dân. Dân thỏa thuận v́ dân tin cậy. Người cầm quyền nhận một nhiệm vụ mà dân giao phó để thực hiện một mục tiêu mà hai bên thỏa thuận trong sự tin cậy lẫn nhau. Tin cậy là gốc của quyền lực.

Nếu anh làm tôi mất ḷng tin th́ tôi rút lui sự tin cậy

Trên mặt lư thuyết, cái nh́n của Locke là cái nh́n đầy lạc quan. Khác với các tư tưởng gia khác, ông nghĩ: t́nh trạng ban sơ không phải là hoàn toàn rừng rú, con người không phải là chó sói với nhau. Từ đầu, con người đă biết sống hợp quần, chỉ v́ một lư do tự nhiên: bản tính của con người là tin ở lời nói, tin nhiều hơn là nghi. Nếu từ đầu, từ căn bản, không ai tin ǵ ở lời nói của ai cả, th́ làm sao đồng ư được với nhau về cái hợp đồng xă hội? Huống hồ đây là một hợp đồng chuyển nhượng quyền và tự do của ḿnh cho một quyền lực mà ḿnh chưa hề biết ǵ về cách tổ chức, hoạt động. Bước nhảy từ t́nh trạng hoang sơ đến t́nh trạng xă hội là một bước nhảy đầy bất trắc. Không tin nhau, không tin ở cái cơ cấu xă hội sẽ tổ chức, ai dám nhảy? Ai dám nhảy với nhau và với cái quyền lực chưa hề biết mặt mũi kia?

Bởi vậy, con người trong cái hợp đồng xă hội của Locke là con người tự tín, tự chủ, biết trách nhiệm. Tôi biết trách nhiệm về việc giữ lời nói của tôi, cho nên tôi cũng tin rằng anh biết trách nhiệm về lời nói của anh. Ư thức về trách nhiệm hỗ tương đó tạo ra mối liên hệ sâu xa giữa người với người: kẻ nào bội hứa, nuốt lời, kẻ ấy đi ra khỏi cái hợp đồng đạo đức đă tạo ra khuôn phép cho đời sống xă hội. Tôi cho anh bạc thật, anh không thể trả lại cho tôi bạc giả.

Trong cái hợp đồng kư kết giữa anh với tôi, giữa chúng ta với tất cả, giữa tất cả với quyền lực, mỗi người đều là những con người trưởng thành, tự lập, có lư trí, biết trách nhiệm. Con người trong t́nh trạng thiên nhiên đă thế, con người trong xă hội hiện đại ngày nay lại càng như thế. Không thể có xă hội nếu không có những cá nhân biết trách nhiệm. Không thể có một quyền lực chính đáng nếu quyền lực đó vô trách nhiệm.

Giữa những con người biết trách nhiệm như vậy, sự tin cậy đối với hợp đồng chính trị dựa trên lư trí, không phải dựa trên ḷng tin mù quáng, và khác với ḷng tin tôn giáo mà câu chuyện Abraham trong thánh kinh là biểu trưng. Thánh kinh kể nguyên văn: "Thượng đế gọi: "Abraham!" Abraham trả lời: "Con đây!" Thượng đế bảo: "Dẫn đứa con duy nhất của ngươi, đứa con mà ngươi yêu thương, Isaac, dẫn đến ngọn núi mà Ta sẽ chỉ, thiêu nó trên dàn lửa". Sáng sớm, Abraham thức dậy, bửa củi, chất củi trên lưng lừa, dẫn Isaac đến nơi hẹn.

Qua ngày thứ ba, Abraham ngước mắt, thấy núi từ xa. Abraham lấy củi chất trên lưng Isaac, tay cầm lửa và dao, cùng đi lên núi. Isaac nói: "Đây là lửa, đây là củi, c̣n đâu là con cừu để giết?" Abraham trả lời: "Này con, Thượng đế sẽ lo việc mang cừu đến". Và cả hai tiếp tục đi. Đến nơi, Abraham dựng một bàn tế, chất củi. Ông trói Isaac, đặt trên đống củi. Rồi Abraham đưa tay lấy con dao để cứa cổ đứa con trai duy nhất mà ông yêu thương. Nhưng sứ giả của Thượng đế gọi ông từ trên trời, bảo ngừng tay lại. "Abraham! Ngươi đă biết sợ Thượng đế, biết không từ chối Thượng đế đứa con của ngươi, đứa con duy nhất". Abraham ngừng tay, thấy trong bụi cây cặp sừng của một con cừu bị vướng, bèn bắt con cừu cho vào dàn lửa."

Đó là chuyện kể trong kinh thánh Cựu ước. Kinh Coran của Hồi giáo cũng kể một chuyện tương tự, chỉ khác cái tên của đứa con, không phải Isaac mà Ismael. Abraham nói với con: "Này con, cha vừa nằm thấy trong mộng cha đang thiêu con trên dàn lửa, con nghĩ sao?" Đứa con trả lời: "Ồ, thưa cha, cha hăy làm điều ǵ mà Thượng đế bảo làm, nếu Thượng đế muốn".

Triết gia Kierkegaard giải thích hành động của Abraham bằng cách đặt ḷng tin lên trên đạo đức khi có mâu thuẫn giữa hai ép buộc. Mâu thuẫn đó không thể giải quyết được bằng dung hợp, bắt buộc phải giải quyết bằng cách lựa chọn giữa một trong hai. Con người lắm khi bị đặt vào những hoàn cảnh bi đát như thế, và chỉ c̣n có cách chọn lựa mà thôi, không phải chọn lựa giữa tốt và xấu, thiện và ác, mà chọn lựa giữa chọn lựa và không chọn lựa, nghĩa là quyết định hay không, và quyết định là dấn thân. Đối với Abraham, bổn phận trước Thượng đế là bổn phận tuyệt đối, bổn phận đó buộc ông phải dấn thân theo Thượng đế, không cần suy nghĩ, nghĩa là không cần suy nghĩ đến đạo đức của người thường.

Thượng đế rất bằng ḷng về thái độ của Abraham. Thượng đế muốn thử ḷng tin của ông và biết ông có ḷng tin tuyệt đối. Nếu đây chỉ là ḷng tin tôn giáo, ta kính cẩn cúi đầu. Vấn đề là không ít quyền lực muốn đưa ḷng tin tôn giáo đó vào mối tương quan với người dân: dân là tín đồ, ḿnh là Thượng đế, mệnh lệnh là tuyệt đối. Bảo đi là đi, bảo chết là chết: không thiếu ǵ thơ văn ca tụng những ḷng tin chính trị như vậy. Kể nguyên văn một đoạn trong thánh kinh là cốt để so sánh với thơ văn sùng tín đưa ḷng tin chính trị vào cơi tuyệt đối của ḷng tin tôn giáo. Tin cậy trong Locke không phải như vậy. Đó là tin cậy giữa những con người mở mắt, ngang nhau, không trên không dưới, sáng suốt, có lư trí, những con người tin có điều kiện. Điều kiện là: nếu anh làm tôi mất ḷng tin th́ tôi rút lui sự tin cậy.

Trong tương quan giữa người dân và quyền lực, Locke nói: nếu quyền lực không làm đúng nhiệm vụ được giao phó, dân sẽ xem như đang ở trong t́nh trạng chiến tranh, nghĩa là sẽ chống lại để lấy lại tự do nguyên thủy. Quả quyết đó của Locke mở ra một chân trời mới trong học thuyết chính trị đương thời: trước cả Cách mạng 1789, Locke đă chủ trương nguồn gốc của quyền lực nằm nơi dân. Dân trao quyền, không phải là trao hẳn, mà là trao có điều kiện. Điều kiện đó là phải giữ ḷng tin, trust. Trong thời đại dân chủ ngày nay, ta nói: đó là ḷng tin đặt vào những người biết trách nhiệm. Cơ sở của quyền hành là trách nhiệm. Không biết trách nhiệm th́ quyền lực chỉ là bạo lực.

Chính v́ đánh hơi thấy trước bước đi của thời đại như vậy mà Locke là ông tổ của những nước dân chủ đầu tiên trên thế giới. Nước Anh trước, nước Mỹ sau, họ khám phá ra điều mới lạ: họ cai trị dân tốt hơn khi dân được hưởng tự do. Tự do chính trị, không những không đưa đến hỗn loạn phương hại cho quyền hành của họ, mà c̣n làm tăng sức mạnh của quyền hành, làm quyền lực vững hơn, cường tráng hơn. Với sức mạnh đó, họ chế ngự thế giới, lạ thật, các nước tự do chế ngự thế giới thiếu tự do! Từ thế kỷ 17, 18, tư tưởng đi trước, sức mạnh đi theo, lịch sử đă dẫn tự do định cư trên khắp toàn cầu, từ tự do dân tộc đến tự do cá nhân, từ tự do trong đầu óc đến tự do trong hiến pháp. Ở đâu có cản trở tự do, ở đấy ḷng tin càng mất. Không ai chối từ nguyên tắc tự do dân chủ được, kể cả Vạn Lư Trường Thành.

Nói như vậy không có nghĩa là lấy chế độ chính trị của các nước Âu Mỹ làm chuẩn. Họ có cái hay mà cũng có cái dở, có ưu có khuyết. Khuyết điểm của họ, ngày nay họ thấy rơ như nh́n vào ḷng bàn tay: đó là cá nhân chủ nghĩa thái quá. Cá nhân chỉ nghĩ đến ḿnh, th́ ư thức tập thể, đời sống cộng đồng, đời sống xă hội, đời sống chính trị, chế độ dân chủ, tất cả đều bị tổn thương và chính tự do cũng mất. Con người dân chủ là con người tự ḿnh phán đoán, quyết định, điều đó hay, nhưng nếu ai cũng khăng khăng bảo vệ lợi ích cá nhân, không biết dung ḥa quyền lợi, th́ chính họ đă đánh mất đi cái bí quyết thành công của chế độ dân chủ là tinh thần mực thước, phải chăng.

Các chế độ Âu Mỹ c̣n vấp thêm nhiều vấn nạn nữa không dễ trả lời. Cá nhân là tối thượng, nhưng cá nhân tôi, cá nhân anh, cá nhân của tất cả mọi người, có ai hiểu biết được hết tất cả mọi vấn đề để phán đoán về tất cả mọi việc? Làm sao tôi biết được cái cầu kia cần bao nhiêu tấn thép để xe anh chạy qua khỏi sập?

Trong mọi chuyện, tôi phải cậy đến anh chuyên viên, rốt cục con người dân chủ trong tôi phán đoán với cái đầu của anh chuyên viên, tôi lệ thuộc ư kiến của anh chuyên viên, nhất là anh chuyên viên chính trị nói rất giỏi. Anh chuyên viên là chủ, đâu phải tôi? Tôi c̣n lệ thuộc cả trăm ngàn vạn thứ trong phán đoán của tôi. Ở trường, tôi chỉ mới lệ thuộc thông tin của ông giáo. Bây giờ, bấm một cái nút, trăm ngàn vạn thông tin ào đến cùng một lúc, tôi biết phán đoán theo cái ǵ đây?

Ngay các ông khoa học gia cũng nghi ngờ cả cái chuyên môn của ḿnh v́ khoa học, kỹ thuật ngày nay tiến nhanh quá, vậy th́ tôi dám tin ở ai? Rốt cục, cái phao mà tôi phải bám vào để phán đoán chỉ c̣n là lư trí của chính tôi. Con người dân chủ ngày nay không c̣n biết tin cậy ai nữa ngoài lư trí. Phê phán có lư trí là thứ phê phán của một con người trưởng thành, con người mà chế độ dân chủ cần đến. Nhưng bao nhiêu lực lượng đang tấn công vào lư trí của tôi: nào tuyên truyền, nào biểu ngữ, nào quảng cáo, nào nói láo, nào mỵ dân. Ai cũng muốn chiếm miếng đất mầu mỡ nơi ḷng tin cậy của tôi cả, tôi tin cậy ai?

Các chế độ dân chủ Âu Mỹ ngày nay đang nhức đầu với câu hỏi đó. Ai cũng nói: sự tin cậy nằm nơi cội rễ của cây dân chủ. Rồi ai cũng chỉ cái cây dân chủ mà nói: nó đang héo. Nó héo v́ tin cậy bị lung lay: dư luận không tin nữa ở bầu cử, không tin nữa ở các cơ quan đại diện, không tin nữa ở sự trong sạch của chính trị. Chế độ dân chủ đang tự nghi ngờ ḿnh, ngay trên xứ sở đă sinh ra nó. Chưa lúc nào lư thuyết của Locke trở thành thời sự như vậy ở Âu châu. Trên báo chí, trên truyền thông, trên các diễn đàn trí thức, khắp nơi, đâu cũng đặt câu hỏi: làm thế nào để vực dậy ḷng tin cậy nơi con người dân chủ?

Nhưng có phải chính chế độ dân chủ làm mất ḷng tin không? Chắc chắn không. Chế độ dân chủ, nhất là ngày nay, phải giải quyết một mâu thuẫn nội tại: làm sao ḥa giải giữa tự do của người dân, càng ngày càng khó tính v́ độc lập hơn, tự chủ hơn, đ̣i hỏi hơn, với nhu cầu của chính quyền phải hành động, phải quyết định, nghĩa là phải chọn lựa những giải pháp ít mất ḷng tin nhất trong những điều kiện kinh tế, xă hội càng ngày càng khó khăn? Làm thế nào? Dẹp bớt dân chủ chăng? Đâu có, phải tăng cường dân chủ! Dân chủ đại diện bị mất ḷng tin? Th́ phát triển thêm dân chủ tham dự. Th́ t́m mọi cách để người dân tham gia nhiều hơn nữa vào việc công. Th́ mở rộng thêm xă hội công dân.

Dân chủ là chính thể luôn luôn đi tới, luôn luôn tiến bộ, luôn luôn năng động. Động cơ của dân chủ chính là cái tính không bao giờ thỏa măn của người dân, nó thúc đẩy chế độ phải bước đi nữa, nhanh hơn, xa hơn. Hoài nghi, bất trắc, cảm tưởng đi hoài không đến, là cái giá phải trả để chế độ chuyển động và để người dân tự do. Bởi vậy, "khủng hoảng" là cơn đau cứ tái diễn hoài trong chế độ dân chủ, nhưng phải có thất bại để được thành công. "Không có thất bại nào lớn hơn thành công" là vậy.

°°°

Mùng 2 tháng 9 và tiếng chào đời của Dân chủ

Tôi mở đầu với Locke v́ hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn độc lập tại quăng trường Ba Đ́nh. Câu đầu trong Tuyên Ngôn của Việt Nam là câu đầu trong Tuyên Ngôn độc lập của Mỹ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền b́nh đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Câu đó lấy ư của Locke v́ các người khai sinh ra nước Mỹ là học tṛ cưng của Locke.

Câu đó, đặt trên đầu của văn bản pháp lư khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cũng đưa nước Việt Nam bước vào triết thuyết tự do của thế giới tiến bộ. Bắt đầu như thế với tự do của con người mà triết thuyết ấy vinh danh, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới "suy rộng" ra: "Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra b́nh đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại của giải phóng dân tộc. Cứ y theo Tuyên Ngôn, giải phóng dân tộc không tách rời với giải phóng con người. Mà giải phóng con người, đứng về mặt tư tưởng chính trị, bắt đầu rơ ràng nhất từ Locke. Vô h́nh, nhà tư tưởng ấy hiện diện trong khí thế nô nức của hàng chục vạn con người, hàng chục vạn trái tim Việt Nam, say sưa trong tự do, độc lập.

Lịch sử ngày 2 tháng 9 c̣n ghi thêm một cử chỉ xuất thần, xứng đáng được xem như nguồn gốc của chế độ dân chủ vừa được khai sinh. Một cử chỉ đượm tinh hoa của tư tưởng tiến bộ. Đang đọc Tuyên Ngôn, Chủ tịch ngừng lại hỏi: "Đồng bào nghe tôi có rơ không?" Cả chục vạn trái tim nồng nàn đáp lại: "Có!". Tiếng "Có!" đó là tiếng chào đời của dân chủ. Tiếng ấy lồng lộng đi vào thơ Tố Hữu:

Người đọc Tuyên ngôn... Rồi chợt hỏi:

"Đồng bào nghe tôi nói rơ không?"

Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi

Rất đơn sơ mà ấm bao ḷng!

Cả muôn triệu một lời đáp: "Có!"

Như Trường Sơn say gió Biển Đông.

Có lănh tụ nào dân chủ đến mức ấy không? Đến mức ḥa ḿnh với nhân dân làm một. Đến mức không quên rằng ḿnh chỉ là đại biểu của dân trong lúc dân đang say sưa uống từng lời của lănh tụ. Bản Tuyên Ngôn, thật vậy, không phải chỉ tuyên bố độc lập; Tuyên Ngôn c̣n tuyên bố nguồn gốc của Nhà nước mới, quyền lực mới. Nguồn gốc đó là đâu? Là dân! "Dân ta đă đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân Chủ Cộng Ḥa."

Là dân! Không ai khác ngoài dân đă dựng lên Nhà nước, đă dựng lên chế độ. Không ai khác ngoài hàng chục vạn con người giữa quăng trường Ba Đ́nh, nhân lên thành hàng triệu triệu người trong cả nước. Nhà nước là họ, chế độ là họ, quyền lực là họ, nguồn gốc là họ. Họ nói qua miệng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố..."

Giữa biển người hừng hực tôn vinh lănh tụ, lănh tụ không quên rằng ḿnh chỉ là đại biểu của dân. Cho nên cái giây phút Chủ tịch ngừng lại là giây phút thiêng liêng nhất trong lịch sử nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa: giây phút để nhân dân cất lên tiếng nói của ḿnh, tiếng "Có!" khẳng khái quang vinh trao quyền chính trị cho lănh tụ, viết lên trời đất một hợp đồng chính trị, từ giă xă hội nô lệ bước qua xă hội độc lập, tự do. Bốn phương tám hướng phải nghe vang lên một tiếng "Có!" tưng bừng như vậy để chứng minh tính chính đáng của chính quyền vừa thành lập: chính đáng, v́ đặt trên sự tin cậy toàn vẹn của người dân.

Sự tin cậy đó có phải là ḷng tin thần thánh? Ḷng tin sùng bái? Ḷng tin tôn giáo? Ḷng tin của Abraham? Tin để có thể giết con? Đâu phải! Tiếng "Có!" đó là tiếng của chủ thể, lần đầu tiên trong lịch sử cất đầu lên để khẳng định ḿnh là chủ thể, không phải vua mà cũng chẳng phải trời. Tiếng "Có!" đó biến tên nô lệ thành ông chủ, biến thần dân thành công dân, và công dân th́ không phải là tín đồ chính trị. Bài thơ của Tố Hữu là bài thơ ca tụng lănh tụ, nhưng ông đă kết luận rất hay:

Ta nh́n lên Bác, Bác nh́n ta

Bốn phương chắc cũng nh́n ta đó

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.

Buổi sáng mồng 2 tháng 9 không phải chỉ có một ḿnh lănh tụ. Có Bác và có Ta. Có Bác nh́n Ta và có Ta nh́n Bác. "Ta" viết hoa v́ "ta" trong thơ là Nước, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa hiện thành người, chục vạn người, trên quảng trường Ba Đ́nh. Ôi, thiêng liêng làm sao cái giây phút nh́n nhau! Mắt này và mắt kia thấy ǵ nơi nhau? Tin cậy toàn vẹn.

Cái ǵ cũng biến chuyển, đó là luật tự nhiên. Dân chủ ở phương Tây cũng biến chuyển, và họ thành tâm công nhận họ đang gặp khủng hoảng ḷng tin. Họ công nhận để sửa đổi. Để phục hồi lại ḷng tin đă mất. Kỷ niệm ngày 2/9 vinh quang, chúng ta nghĩ ǵ?

http://tuanvietnam.net/2010-08-30-khong-th...-vo-trach-nhiem
DanTriVN
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: 'Mỹ phải làm mạnh hơn nữa'

LTS: Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, từng giữ các chức vụ Chính Ủy Khu 1 (1947), Cục Trưởng Cục Tổ Chức Tổng Cục Chính Trị (1950); Chính Ủy Quân Khu 1 (1958), Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hóa (1961-1964), Ủy Viên Dự Khuyết Trung Ương Đảng (1960-1976), Đại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Ông được biết đến nhiều sau khi lên tiếng chống dự án bauxite và những chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa.

Lữ Tống (Người Việt - NV): Là người sống và làm việc lâu năm tại Bắc Kinh với cương vị Đại Sứ, có bao giờ ông được chính phủ Trung Quốc trưng ra bằng chứng về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Hoàn toàn không! Tôi sống tại Trung Quốc nhiều năm và chưa lần nào nghe họ nói về vấn đề này. Tôi cũng đă nhiều lần lục lạo thư tịch của họ để t́m hiểu xem hai quần đảo này có chủ quyền của họ không, đặc biệt là bản đồ hay những chứng cứ khác, nhưng tôi xác định là không hề có.

Trong khi đó, phía Việt Nam chúng ta có đủ hết nhưng chỉ tiếc những ông lănh đạo Việt Nam lại không cho công bố ra những tài liệu hồ sơ đó.

NV: Vậy những dữ kiện mà họ nói do Tướng Trịnh Ḥa thu thập được khi đến đảo Hoàng Sa th́ sao?

Nguyễn Trọng Vĩnh
: Không có nốt. Họ chỉ vẽ ra thế thôi và tôi cam đoan đó chỉ là hàng giả!

NV: Là người theo dơi chặt chẽ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, xin ông cho biết khái quát những bằng chứng ông cho là có thể đem ra tranh luận với Trung Quốc để giành lấy chủ quyền cho Việt Nam?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Việt Nam có đủ cứ liệu lịch sử. Từ Vua Minh Mạng đă có các đội công tác ra tuần tra khai thác, thực tế là Việt Nam đă quản lư. Bức bản đồ do Tướng Đặng Chung, Phó Tổng Binh trấn thủ đảo Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam ngày nay vẽ cũng ghi Hoàng Sa thuộc về An Nam. C̣n thư tịch Trung Quốc th́ không t́m thấy một cứ liệu nào.

Trên thực tế, thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam, quân Pháp đóng giữ Hoàng Sa, thời Việt Nam Cộng Ḥa cai trị th́ quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đóng giữ. Chế độ nào th́ cũng là Việt Nam. Năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng mạnh hơn, bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa, từ đó đến nay luôn rêu rao là của Trung Quốc. Theo luật biển quốc tế, hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm trong hải lănh Việt Nam.

Về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, chúng ta có đủ chứng cứ pháp lư, Trung Quốc th́ không. Thế nhưng báo chí Trung Quốc dựng ra hết điều này tới điều khác ḥng chứng minh một cách sai sự thật rằng hai quần đảo này là của họ.

Trung Quốc có nhiều hành động công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa và c̣n “dạy dỗ” chúng ta nên im lặng, không nên đem vấn đề tranh chấp ra ánh sáng v́ ḥa b́nh hữu nghị.

Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng mạnh liên tục tấn công chiếm bằng được cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của Việt Nam?

Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng lớn hơn bắn đắm tàu hải quân và giết hại 74 thủy thủ ra tiếp tế cho Trường Sa của Việt Nam ngày 14 Tháng Tư, 1988?

Hữu nghị, sao không trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam?

Máu của những chiến sĩ này [Việt Nam Cộng Ḥa, trận Hoàng Sa 1974 - NV] đổ ra là đổ cho tổ quốc, phải tuyên dương, phải xem họ ngang với tất cả liệt sĩ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chứ chưa nói tới việc dùng cái chết của họ để chứng minh chủ quyền của Việt Nam.

NV: Ông vừa nhắc đến chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và những người lính của chế độ này đă hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa. Theo ông, chính quyền hiện nay có nên công nhận sự hy sinh của họ một cách công khai, nhằm xác định chủ quyền Hoàng Sa của ta đă bị Trung Quốc đánh chiếm không?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi cho rằng đây là một câu hỏi rất tốt. Nó vừa nói lên tinh thần trong ngoài đều là anh em v́ cùng là người Việt Nam. Máu của những chiến sĩ này đổ ra là đổ cho tổ quốc, phải tuyên dương, phải xem họ ngang với tất cả liệt sĩ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chứ chưa nói tới việc dùng cái chết của họ để chứng minh chủ quyền của Việt Nam.

Đây là chân lư, của tôi tôi mới đổ máu bảo vệ chứ! Các anh tới đây giết người cướp đất là chuyện rành rành ra rồi.

NV: Ông cho rằng lănh đạo Việt Nam nên có những quyết sách cứng rắn hơn với Trung Quốc, thế nhưng, hiện Bắc Kinh đă mạnh lên rất nhiều và cấp lănh đạo Việt Nam luôn cho rằng giữ ḥa b́nh hữu nghị với láng giềng vẫn tốt hơn đối đầu với họ?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Người dân Việt Nam luôn luôn muốn sống trong ḥa b́nh hữu nghị nhưng hữu nghị cũng phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của tổ quốc. Nếu lănh đạo không thể lên tiếng công khai vào lúc này th́ phải khuyến khích báo chí lên tiếng. Hăy tạo điều kiện để các nhà khoa học đưa ra chứng lư lịch sử. Cứ để cho quần chúng biểu t́nh một cách ḥa b́nh, phản đối khi quốc gia bị xâm phạm. Lănh đạo không nên dập tắt tinh thần yêu nước của họ.

Lănh đạo hiện nay phải biết rằng, “quan nhất thời, dân vạn đại.” Điều ǵ cũng có thể tha thứ, nhưng bán nước hay có thái độ hèn nhát trước ngoại bang, dù bất cứ lư do ǵ, cũng đều bị lịch sử phê phán và không bao giờ được tha thứ. Các ông lănh đạo hăy nhớ cho kỹ điều này. Lịch sử đă có nhiều gian thần bán nước. Lịch sử phê phán chúng và lịch sử sẽ lập lại.

NV: Cách đây không lâu, Đại Sứ Tề Kiến Quốc từng lên tiếng tại Hà Nội, cho rằng hai nước không nên đem chuyện tranh chấp chủ quyền ra một cách công khai, v́ làm như thế ảnh hưởng đến t́nh hữu nghị Việt Trung. Thiếu tướng đă có phản ứng thế nào về những tuyên bố này?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi đă viết một bức thư trả lời ông Đại Sứ Tề Kiến Quốc về việc này và tôi đă nhấn mạnh đến việc Trung Quốc luôn luôn muốn tấn công Việt Nam nhưng lại dùng mỹ từ để che mắt thiên hạ. Ví dụ, ông Tề Kiến Quốc bảo rằng Trung Quốc không muốn đánh Việt Nam, hay không dám đánh Việt Nam v́ điều này điều nọ. Ông nói: “Trung Quốc muốn làm nước lớn có h́nh ảnh đẹp, không thể dùng thủ đoạn chiến tranh đối với láng giềng.” Ông chỉ nói đúng một nửa. Tôi cho ông ta thấy điều ông ấy nói là gian dối.

Năm 1979, Trung Quốc huy động mấy quân đoàn đánh Việt Nam, tàn phá ba tỉnh biên giới Việt Nam, giết hại vô số nhân dân vô tội. Lại nói là “dạy cho Việt Nam một bài học.” Việt Nam có xâm phạm Trung Quốc đâu? Việt Nam phạm tội ǵ mà phải dạy, có chăng là tội không tuân phục Trung Quốc, không đáp ứng những yêu cầu vị kỉ của Trung Quốc?

Rồi hai cuộc chiến Trường Sa và Hoàng Sa th́ sao? Ai là người tấn công trước và chiếm giữ hai nhóm đảo này rồi vơ vào cho là của ḿnh? Không phải Trung Quốc ư? Thật đúng như người ta từng nói “Đừng chỉ nghe lời người Trung Quốc nói, hăy xem việc họ làm.”( sic)

NV: Theo kinh nghiệm của ông, đối với vấn đề thương lượng biển đảo cũng như trên đất liền giữa bộ Ngoại Giao Việt Nam và Trung Quốc, th́ Việt Nam có lợi dụng được thế mạnh nào để đối phó với họ hay không?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Nói thật ra những người lănh trọng trách thương lượng với Trung Quốc đa số đều không thông hiểu vấn đề, nhất là những quá tŕnh lịch sử xảy ra trong hàng ngàn năm nên Trung Quốc cứ lấp liếm, cứ lấy sức ép để lấn lướt chúng ta.

Hơn nữa, họ đă có mưu đồ xâm cư Việt Nam nhiều chỗ lắm. Họ nói đàm phán với nhau trên cơ sở hiện tại thôi, và v́ đại cục. Nhiều đời lănh đạo của Việt Nam đă không kiên quyết cộng với việc những người nhận trách vụ thương thảo không hiểu rơ quá tŕnh xâm canh xâm cư của họ nên họ mới lọt vào bẫy của Trung Quốc.

NV: Những biến chuyển vài ngày gần đây khi hạm đội Hoa Kỳ ghé thăm Đà Nẵng và Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố không đứng bên ngoài nh́n Trung Quốc lũng đoạn Biển Đông. Những sự kiện như vậy có làm cho Việt Nam vững niềm tin hơn khi thương thuyết với Trung Quốc?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Dĩ nhiên đây là tín hiệu hết sức đáng lạc quan v́ ít ra Việt Nam cũng an tâm rằng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông sẽ dễ dàng hơn cho Việt Nam. Tôi dám tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ nổi giận và sẽ có thái độ phản kháng. Chúng tôi nghĩ rằng Mỹ phải làm mạnh hơn nữa mới giảm được ư đồ bá quyền của Trung Quốc được.

NV: Xin cám ơn ông.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=118020
DanTriVN
Vietnam, unlikely US ally

Increasingly, America finds itself aligned with its old adversary in order to offset China's assertion of regional hegemony

The presence of the USS George Washington, a nuclear supercarrier, off Vietnam earlier this month signalled a deepening rapprochement between two former enemies in the face of an increasingly assertive China.

Coming 35 years after the end of the Vietnam war, the visit officially marked the 15th anniversary of normalisation of relations between the US and Vietnam. A group of high-ranking Vietnamese military officials was flown aboard the ship, along with other Vietnamese government dignitaries and the US ambassador to Vietnam, as both sides turned on the charm.

But the supercarrier's visit also sent a clear political message to China: the US also has a stake in what China thinks is its own backyard. A few days later, Admiral Robert Willard, the head of the US Pacific command, spelt out those interests during a visit to the Philippines when he told reporters that the US military opposed any use of force to settle territorial disputes in the south China sea.

China claims sovereignty over the entire 3.5m square-kilometre south China sea, dotted with disputed groups of islands that are also claimed in whole or in part by Vietnam, Taiwan, Malaysia, Brunei and the Philippines. Chinese forces seized the western Paracel islands from Vietnam in 1974 and sank three Vietnamese navy ships in a 1988 sea battle.

More recently, China has arrested Vietnamese fishermen, issued threats against multinational oil companies operating in Vietnamese waters, ramped up naval exercises and established a submarine base on Hainan island. Also in dispute are the Spratly islands. The area straddles busy sea lanes and is estimated by China to hold oil and natural gas reserves of 17.7bn tonnes.

China upped the ante when it recently upgraded its claim to the south China sea to a "core interest", putting it on par with Beijing's claims over Taiwan and Tibet. Willard's comments reinforced remarks made last month by the US secretary of state, Hillary Clinton, that irked China. Clinton told a conference of south-east and east Asian ministers that the US had a "national interest" in seeing the territorial disputes resolved through a "collaborative diplomatic process by all claimants".

China's assertiveness is pushing the US and Vietnam closer, particularly on military matters. The two countries held their inaugural US-Vietnam defence policy dialogue in Hanoi on 19 August, seen as a turning point in relations between the two former enemies. Carl Thayer, professor of politics at the Australian defence force academy in Canberra, wrote in the Wall Street Journal:

"Clearly, recent Chinese military assertiveness in the western Pacific and the south China sea provides a stimulus for stepped-up US-Vietnam military cooperation. Both countries share an interest in preventing China or any other country from dominating seaborne trade routes and enforcing territorial claims through coercion. Vietnam sees the US presence as a hedge against China's rising military power."

Following on from their defence dialogue, the US defence secretary, Robert Gates, is to visit Vietnam in October, marking the fourth meeting with his Vietnamese counterpart in just two years and the two countries are to hold their first military-to-military talks will be held at the end of the year. The sale of arms, equipment and military technology is not on the cards at the moment, Thayer says, but he thinks it likely that Vietnam will lift its self-imposed restrictions and allow its military officers to undertake professional military education and training courses at staff colleges and other military institutions in the US.

It is not just military cooperation that is growing. The US is said to be negotiating a controversial agreement with Vietnam to provide nuclear fuel and technology – without the usual constraints on enriching uranium to prevent proliferation.

Vietnamese officials stress that co-operation between the US and Vietnam "does not do any harm to any other countries", and China, so far, has spared Vietnam the kind of abrasive language it has directed at the US. But Vietnam will be all too aware that Chinese patience has limits – the two fraternal communist countries fought a brief war in 1979, after falling out with each other over Cambodia.

"Vietnam is taking a leaf out of China's book in building up its diplomatic alliances across the board," says Kerry Brown, an Asia expert at Chatham House, the foreign affairs thinktank.

"Having a stronger link with the US will give the Chinese pause for thought, no matter what gestures they might make in asserting themselves in the region. They now know that America has delivered a view on this whole issue, and that means that they can't live in the pleasing world of vagueness that prevailed till then. The bottom line now is that whatever China does in the south China sea has just become that bit more sensitive, and will impact on its relations with the US. The Vietnamese can now exploit this. That is exactly what they intend to do."

As the US and Vietnam cozy up to each other militarily, defence cooperation between the US and China remains at a standstill. Beijing suspended military-to-military ties between the countries in January, in retaliation for US arms sales to Taiwan.

A Pentagon report issued a week ago heightened China's irritation with the US. The annual Pentagon report to congress on China's military said secrecy surrounding China's military buildup increased the potential for misunderstanding and conflict with other countries. It also said China was developing more advanced weapons systems and pursuing the construction of aircraft carriers and ballistic missiles capable of attacking targets more than 930 miles away.

China reacted angrily to the report, saying that it was not "not beneficial to the improvement and development of Sino-US military ties".

http://www.guardian.co.uk/commentisfree/ci...-military-china
DanTriVN
Vietnam's Complicated Relationship with the US

35 years after the war, Vietnam has to come to terms with the US, and the US has to come to terms with Vietnam

Cheap facsimiles of $100 bills waft in the tropical breeze, littering Ho Chi Minh City's sidewalks with Benjamin Franklin's face. Elsewhere in Vietnam, US President Richard M. Nixon has become a gritty fashion icon, giving politicized street cred to "urban wear" clothes.

Thirty-five years ago, victorious Communist North Vietnam's troops fought their way into South Vietnam's southern port of Saigon and renamed it Ho Chi Minh City to honor their dead, charismatic, wispy-bearded leader. Ho's ubiquitous portrait, however, now competes with symbols of America, one of his worst enemies. Today, on the chaotic streets of Ho Chi Minh City and the northern capital Hanoi, virtually anything linked to the US is prized, including iPhones, Pepsi, and made-in-Vietnam Converse shoes.

In short, it appeared during a recent visit to Ho Chi Minh City, on Vietnam's streets as well as its ministries, it is engaged in a forked relationship with the United States that can't just be described as love-hate. It appears more complicated than that. Three and a half decades years after the war ended, both countries are still trying to come to terms with the other. Despite Vietnam's feverish adoption of the US's cultural symbols, other American political landmarks – a free and unfettered press, universal suffrage – remain too difficult for the one-time Communist regime.

London-based Amnesty International and other organizations criticize Vietnam for an array of human rights violations. Last September, the Committee to Protect Journalists cited Vietnam for continuing interference and arrests of Web-based journalists and political bloggers. Reporters remain in jail for reporting on corruption and political harassment. Wary of allowing too much American-style freedom, the one-party government heavily censors the Internet and is now targeting online games.

"Game designers will be instructed to produce healthy online games relating to history and cultural traditions," the Vietnam News Service reported in August, outlining new measures issued by the Information and Communications Ministry.

Since diplomatic relations were established in 1995, “bilateral ties have expanded to the point where leaders on both sides describe each other as partners on a number of issues,” according to a study for the US Congressional Research Service by Mark E. Manyin that was published in July, eclipsing the horrors meted out by the Americans from 1965 to 1975. Those are now enshrined in museums that display grim evidence, weaponry, and portraits of devastated Vietnamese from a time when US soldiers called their burnt napalm victims "crispy critters."

"They decide on a water torture," says the caption of a black-and-white news photograph in The War Remnants Museum which documents five American soldiers, including one pouring a canteen onto a horizontal victim's cloth-covered head. "A rag is placed over the man's face and water is poured on it, making breathing impossible. Members of the 1st Air Cavalry use water torture on a prisoner in 1968."

Outdoors sit captured U.S. weaponry including an F-5A jet fighter, A-37 light attack aircraft, M-41 tank, a UH-1H Huey and a CH-47 Chinook helicopter, alongside other pieces. The museum's gift shop sells what looks like US soldiers' metal identification "dog tags" including one issued to B. P. McKenna, serial number B407854 USN, a Protestant with A-Positive blood.

Vietnamese forgers have made a fortune reproducing the tags and selling them to tourists since the 1990s, so it is difficult to determine their authenticity. Genuine or not, their sale at The War Remnants Museum, and at the nearby Ho Chi Minh Museum, symbolizes how Vietnam regards booty linked to the US military's defeat.

Around the corner from The War Remnants Museum, however, a shop boldly calls itself The Death, and showcases Goth-themed shoes, dresses and handbags, indicating a younger generation's different attitude toward the West. The Death shop's sign on Le Quy Don street, in inexplicable broken English, reads: "b!tchy me passion over you."

Within sight of Death's door is the former South Vietnamese President's Palace – now Reunification Palace – where the war's final showdown occurred. But that U.S. failure to protect an ally is largely ignored by today's Vietnamese who eagerly watch Hollywood's newest films, subtitled in Vietnamese, including "Inception" at the MegaStar Cineplex in Hanoi, and "Salt" playing at Ho Chi Minh City's Dong Da theater.

While an increasing number of Americans now refer to "Vietnam" as shorthand for the US military's confusion, quagmire and countless killing of innocent people in Afghanistan, the one-party regime in Hanoi is looking toward Washington to improve commercial, cultural and military ties. Today, the US buys most of Vietnam's exports, and Americans are the biggest investors in the country. In 2009, two-way trade topped more than US$15 billion.

Whatever the rhetoric emanating from the war museum, Vietnam continues to seek a closer embrace, having applied for acceptance into the US General System of Preferences, participating in negotiations for a bilateral investment treaty with the US and working towards membership in the Trans-Pacific Strategic Economic Partnership, a trade group the US is also considering joining.

And, 15 years after the two countries normalized relations, they conducted joint naval exercises in the strategic South China Sea for a week during August. In what has to be considered a symbolic gesture for both countries the destroyer USS John S. McCain, named for the father of the 2008 Presidential candidate who spent five-and-a-half years in a Hanoi prison after his plane was shot down over North Vietnam, was also allowed to dock in central Vietnam's former US-occupied port of Danang.

America is influencing Vietnam in other ways.

"Many students like to learn English, and it is the number one foreign language which we want to know, so that we can get a good job and progress," said Tu, a young waitress at a new but empty middle-class restaurant. "The second favorite language for young Vietnamese is Japanese, but it is too difficult," she said.

Many Vietnamese, meanwhile, worship dead ancestors by performing a Chinese-influenced ritual of burning small, paper, look-alike items – such as tissue-thin dollhouses, clothing patterns and other symbolic necessities. Believers say the smoke rises to heaven, where deceased family members can grab the goods to make life easier in the afterworld.

In recent years, many Vietnamese have chosen locally-printed facsimiles of $100 U.S. currency notes, sold in funeral shops. The practice is so popular that unburnt fake $100 bills, apparently blown away during spontaneous curbside rituals, occasionally appear underfoot on sidewalks, amid other debris.

The late, disgraced President Nixon is also wedged into modern Vietnam's pop culture. Step inside Mai's, a trendy gallery on Dong Khoi street – which links the colonial French-built Catholic Notre-Dame Cathedral and the Opera House. Designer Mai Lam offered a new, bulky, olive green U.S. army overcoat with a large embroidered American flag on its back, partially obscured by the vividly stitched face of Mr. Nixon wearing a black suit and tie while speaking into a microphone, angry and defiant. Price: $3,500.

"Her much celebrated vintage US army flak jackets, beautified for urban wear with embroidered Buddhas and embellished with precious stones [are] a poignant healing symbolism for someone who has suffered during the war," Mai's Facebook page said. Other distressed fashions bear a portrait of Ho Chi Minh.

http://asiasentinel.com/index.php?option=c...&Itemid=213
DanTriVN
Sập công tŕnh trung tâm thương mại ở Phú Mỹ Hưng

8h sáng nay, nhiều công nhân đang làm việc ở tầng 1 Trung tâm thương mại Crescent bên trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng (phường Tân Phú, quận 7, TP HCM) th́ bất ngờ sàn bêtông đổ sập.

Tại hiện trường, sàn tầng một mới đổ bêtông đă bị sập xuống với diện tích khoảng 200 m2. Sắt, bêtông nằm ngổn ngang khắp nơi, lọt xuống cả khu vực tầng hầm.

Lực lượng cứu hộ của Sở cảnh sát Pḥng cháy chữa cháy đă có mặt tại hiện trường. Sau gần 2 giờ t́m kiếm, lực lượng cứu hộ xác định không có người ở dưới khu vực bị sập

Theo nhân chứng, lúc đó có hàng chục công nhân đang thi công ở trên sàn bị sập. “Một tiếng ầm vang lên kinh hoàng, bụi bay mịt mù. Tôi thấy nhiều người từ bên trong chạy ra hoảng loạn”, một công nhân đang thi công ở công tŕnh đối diện kể lại.

Dự án Trung tâm Thương mại Crescent khởi công năm 2009, dự kiến cuối năm 2011 hoàn thành, bao gồm 3 hầm và 6 tầng, chủ đầu tư là công ty Phú Mỹ Hưng. Với vị trí đắc địa đối diện Hồ Bán Nguyệt và thiết kế đạt chuẩn quốc tế, Trung tâm Thương mại Crescent được kỳ vọng là điểm giải trí, mua sắm và ẩm thực hấp dẫn.

http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/09/3BA1FEB9/
DanTriVN
Không nhận đơn kiện của nhiều người

Truyền thông Việt Nam đưa tin Thanh Tra Chính phủ đă ban hành quy tŕnh xử lư đơn thư mới mà theo đó không khuyến khích đơn gửi tới nhiều nơi và do nhiều người kư.

Bản tin trên mạng của báo Tiền Phong nói "các loại đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến cơ quan hành chính nhà nước sẽ bị trả lại nếu đơn có họ tên, chữ kư của nhiều người".

Quy định mới này sẽ có hiệu lực từ ngày 11/10, theo Tiền Phong.

Báo này cũng trích quy định mới viết:

"Những đơn được gửi đến nhiều cơ quan, gửi tới nhiều người và đă gửi đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết, cũng sẽ không được tiếp nhận.

"Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xử lư đơn trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn."

Đơn thư

Gần đây đă có nhiều đơn thư của gửi lên các cơ quan Đảng và Nhà nước về các cá nhân và các vấn đề xă hội gây nhiều tranh luận.

Mới đây nhất là công văn của Văn pḥng Luật sư V́ dân gửi một loạt các cơ quan để tố cáo Tổng Giám đốc Đài Truyền h́nh Việt Nam Vũ Văn Hiến.

Cuối tháng trước một loạt các tướng, tá và lănh thành cách mạng đă có Bấm thư gửi tới Bộ Chính trị và các ủy viên trung ương đảng nói về trách nhiệm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trong vụ Vinashin lỗ tới hàng ngàn tỷ đồng.

Hồi đầu năm nay các tướng lĩnh cũng đă gửi một Bấm thư khác tới Bộ Chính trị nói về Đại hội vào đầu năm tới của Đảng Cộng sản và "những khuyết điểm" của các ông Bấm Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng và Tô Huy Rứa.

Ngoài ra một số lượng lớn đơn thư của người dân cũng đă được gửi tới các cơ quan nhà nước đ̣i xử lư những vấn đề mà họ đă khiếu kiện trong thời gian dài.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/20...new_rules.shtml
DanTriVN
QUỐC NẠN - SỰ VÔ TRÁCH NHIỆM VÀ LĂNG PHÍ MANG TÍNH HỆ THỐNG

(Bài viết nhân vụ Vinashin thất thoát trên 80 ngh́n tỷ)

Nguyễn Hoàng

Sự vô trách nhiệm mang tính hệ thống tất yếu gây ra những lăng phí mang tính hệ thống. Đó là sự lăng phí về cơ hội, các nguồn lực con người và xă hội, tiền của, thời gian, tài nguyên đất nước và phải được coi như một tội ác ghê gớm. Quy mô và sức phá hoại nó rât nặng nề có thể lên đến nhiều tỷ dollar/năm. So sánh về sức tàn phá, tham nhũng chỉ như mấy chú muỗi mắt đặt bên cạnh những con khủng long lăng phí và phá hoại mà thôi. Hiện tại chưa có bất cứ một chế tài nào để chế ngự được loại quốc gia đại nạn này.

Công luận xă hội VN vừa qua đă tập trung bàn nhiều về nạn tham nhũng, hối lộ gọi chúng là quốc nạn.

Nhưng c̣n có một loại có thể gọi là quốc gia đại nạn. Một cơ chế phá hoại làm thất thoát kinh khủng các nguồn lực quốc gia ngay từ đầu đă nằm cơ hữu trong ḷng kinh tế xă hội VN.

Đó chính là sự vô trách nhiệm, lăng phí mang tính hệ thống.

Sự vô trách nhiệm và lăng phí mang tính hệ thống này thường có sức phá hoại giá trị hàng trăm triệu đến nhiều tỷ dollar. So về quy mô tàn phá, tham nhũng chỉ như mấy chú muỗi mắt đặt bên cạnh những con khủng long lăng phí và phá hoại mà thôi.

Kết quả từ loại quốc nạn này thường là sự tàn phá nền kinh tế mang tầm cỡ quốc gia mà đến nay c̣n ít được bàn thảo. Chỉ riêng một Vinashin đă có tới trên 4 tỷ dollar nợ nần. Nó góp phần gia tăng gánh nặng cho nền kinh tế nghèo VN vốn không ổn định. Nợ quốc gia đă tới gần 50%, điểm phải dừng v́ bên kia sẽ là vực thẳm.

Mặc dù đă bắt điều tra 5 vị lănh đạo trực tiếp của Vinashin, sẽ xác định được các tội cố ư làm trái hay hối lộ, tham nhũng nhưng chắc chắn số tiền tham nhũng chỉ đến hàng chục, ghê gớm lắm mới đến hàng trăm triệu dollar. Vậy hàng tỷ dollar kia v́ sao thất thoát, nguyên nhân nào dẫn đến sự lăng phí phá hoại rất kinh khủng này?

1.Sự vô trách nhiệm mang tính hệ thống:

Ở ta có một nền kinh tế xă hội luôn được vận hành theo cách thức đặc biệt: một nơi ra quyết định, nghị quyết, một nơi thứ hai thực hiện nghị quyết, một nơi khác thứ ba vận hành và nơi cuối cùng là con cháu chưa ra đời sẽ chịu trách nhiệm về mọi hậu quả của nó về sau này.

Hiện thời chẳng ai phải chịu trách nhiệm về các hậu quả của hành động của họ trong một hệ thống ra quyết định liên hoàn như vậy!

Cả một hệ thống đồ sộ tốn kém với hàng triệu quan chức lớn nhỏ nhưng lại tỏ ra tŕ trệ và vô cảm.

Một bộ máy lập pháp hướng tới thỏa măn các quyết sách chính trị nhất thời và nhu cầu tự thân của ngành hành pháp hơn là xây dựng một nền pháp trị lâu bền trên nền tảng do dân, v́ dân.

Một bộ máy hành pháp, tư pháp đều mang tính tự thân đề cao lợi ích, sự an toàn dựa vao sự vô can của bộ phận ḿnh lên trên toàn cục hơn là can dự một cách khách quan nhằm thực thi và bảo vệ pháp luật; lại c̣n cơ chế vùa đá bóng, vừa thổi c̣i nên không sao phân định được trách nhiệm của cầu thủ với trọng tài.

Hệ thống ấy cho phép không có nơi nào phải chịu trách nhiệm về những sai hạm tày trời xảy ra ở Vinashin. Mặc dù tất cả đều có quy tŕnh luật định, có nhiều ṿng giám sát nhưng con voi vẫn đi qua được mọi lỗ kim. Họ vẫn mua được những con tàu, nhà máy điện ở dạng những đống sắt vụn với giá cắt cổ nền kinh tế mà không ai trong hệ thống trên bị liên đới trách nhiệm.

Cũng từ sự vô trách nhiệm mang tính hệ thống này mà các quyết định thành lập các cơ cấu xài tiền như Vinashin, các dự án tổn hại tiền dân như chương trinh mía đường v.v.. đều đă và có thể thông qua mà không một ai phải tự vấn lương tâm ḿnh!

Điều khôi hài đau xót nhất ở đây lại là tất cả chúng ta đều vô can trong mọi sự đổ vỡ của nền kinh tế, trong sự đổ vỡ nồi cơm của chính nhà ḿnh!

2.Sự lăng phí mang tính hệ thống hay cơ chế “ Muốn ăn th́ phải phá”:

Một nhóm nguyên nhân sâu xa khác gây nên hiện tượng lăng phí mang tính hệ thống là sự không hài ḥa, không nhất thể hóa các quyền và lợi giữa các bộ phận trong một xă hội. Khi một nhóm thủ lợi, không bị các cơ chế và luật pháp minh bạch của một xă hội công dân điều tiết, họ sẵn sàng hy sinh đại cục, lợi ích của xă hội v́ lợi ích riêng.

Không phải ngẫu nhiên trong ngôn từ xă hội có từ “Buôn cơ chế” thuộc loại siêu của siêu lợi nhuận. Những lăng phí, thất thoát và tham nhũng trong đầu tư cơ bản trỏ thành câu chuyện quen thuộc đến mức người dân nơi quán xá đều thông thạo khi nói về chúng.

“Chạy dự án” đă làm giàu thêm cho ngôn ngữ Việt để chỉ về một hoạt động có sức hút rất lớn về lợi ích. Khi vài chục phần trăm đến non một nửa giá trị dự án rơi vào túi tư nhân th́ đây cũng chính động lực không cưỡng lại được cho sự ra đời các loại dự án và siêu dự án mà kết quả chung sẽ là tăng quy mô và tầm cỡ của sự lăng phí có tính hệ thống và gánh nặng nợ nần trong xă hội hiện nay.

Ở các nước khác, cơ chế win-win cho phép mọi thành phần xă hội nỗ lực làm ăn, tạo ra của cải làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xă hội. Ở ta, cơ chế làm ra để chia nhau không biết v́ lẽ ǵ đă không được thực thi.

Từ các phân tích ở phần trên, ta sẽ thấy như một lẽ tự nhiên của luật nhân quả, trong thực tiễn đă h́nh thành một cơ chế đáng sợ “Phá để ăn” hay “Muốn ăn th́ phải phá” và phá càng nhiều th́ kiếm chác cũng càng nhiều.

Những điều này có thể t́m thấy ở hầu hết các dự án của Vinashin mà gần đây Phạm Viết Đào đă tổng kết trên trang Blog đầy tính chiến đấu của ông, từ vụ kư HĐ đóng 15 con tàu 53 ngh́n tấn đến các vụ đầu tư cho những đống sắt phế thải, gây ô nhiễm môi trường như các vụ mua tàu, nhà máy điện sắp hoặc hết niên hạn sử dụng, Vinashin gây thất thoát cho chính ḿnh hàng trăm triệu dollar mà hậu quả nh́n thấy trước là cả một chặng đường thua lỗ. Phá hoại cả một ngành đóng tàu khi trứng nước bằng phương cách “muốn ăn một hăy phá mười, một trăm hoặc nhiều hơn thế. Không biết những người kư các HĐ này kiếm chác được bao nhiêu từ khoản hoa hồng nhỏ nhoi trong công cuộc phá hoại của họ???

Gần đây có một dự án mang tính thời sự tốn hàng trăm tỷ của VTV đang được đắp chiếu nằm đó.
Tin rằng bạn đọc có thể tiếp tục nêu ra rất nhiều ví dụ đau xót về hiện tượng phá để mà ăn, mà chia nhau này!

3.Sự thiệt hại ở quy mô quốc gia


Trên nền tảng của sự vô trách nhiệm và lăng phí mang tính hệ thống, quy mô của sự thiệt hại, quy mô phá hoại của nó đă vượt ra khỏi sức tưởng tượng của nhiều người, lên đến nhiều tỷ dollar năm.

Có thể nêu ra vài ví dụ:

Thời kỳ HTX nền nông nghiệp VN chỉ sản xuất được 12-14 triệu tấn lương thực quy thóc mỗi năm. Khi thực hiện chỉ thị 100 và nghị quyết khoán 10 đi đúng quy luật khách quan, sức sản xuất trong nông nghiệp được giải thoát, Việt Nam từ nước nhập khẩu trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Riêng sản lượng lương thực mỗi năm đă đạt 38 triêu tấn thóc, gấp khoảng ba lần tổng sản lượng lương thực thời kỳ HTX. Theo thời giá, nếu tạm tính b́nh quân 400 USD//tấn gạo như hiện nay th́ riêng ngành sản xuất lúa gạo của nông nghiệp Việt Nam thu về thêm so với thời kỳ HTX khoảng trên 6 ,4tỷ ÚSD mỗi năm.

Nói cách khác, hệ thống sản xuất cũ tạo ra một sự lăng phí mang tính hệ thống trị giá 6,4 tỷ USD/năm chỉ riêng trong một ngành sản xuất lúa gạo.

Có thể nêu lên một ví dụ khác là phong trào đầu tư của các địa phương cho chương tŕnh một triệu tấn đường, đă tiêu của ngân sach và các nguộn vốn khác trên 10.050 tỷ (trên nửa tỷ dollar), nay càng sản xuât càng bị lỗ, không nh́n thây khả năng hoàn vốn.

Năm 2010, t́nh trạng tài chính của các nhà máy đường trên toàn quốc là hết sức thê thảm với số nợ khoảng trên 5.000 tỷ đồng (khoảng 263 triệu dollar) và đa số mất khả năng chi trả.

Sự vô trách nhiệm và lăng phí mang tính hệ thống c̣n gây ra rất nhiều thiệt hại trên các lĩnh vực khác như làm suy yếu các nguồn lực kinh tế xă hội. Phá hoại năng lực cạnh tranh của nền kinh tê, không nâng cao được chất lượng tăng trưởng, Gần đây VN liên tục bị đánh tụt hạng ở chỉ số tin cậy quốc gia, chỉ số tín dung các ngân hàng.

4. Thay cho lời kết

Sự vô trách nhiệm mang tính hệ thống tất yếu gây ra những lăng phí mang tính hệ thống. Đó là sựu lăng phí về cơ hội, các nguồn lực con người và xă hội, tiền của, thời gian, tài nguyên đất nước và phải được coi như một tội ác ghê gớm. Quy mô và sức phá hoại nó rât nặng nề và hiện chưa có bất cứ một chế tài nào để chế ngự nó.

Thế hệ con cháu sẽ biết lấy ǵ trả nợ khi chỉ số ICOR đă lên đến 7, 8 cảnh báo về một nền kinh tế kém hiệu quả, có chất lượng tăng trưởng rất thấp, tính cạnh tranh và độ tin cậy quốc gia và một số ngân hàng VN hàng đầu về tín dụng thuộc tốp dưới của các bảng xếp hạng quốc tế!

Nhân vụ thất thoát trên 80 ngh́n tỷ của Vinashin,xin được bàn thêm về một dạng quốc gia đại nạn trong bài viết ngắn này với đôi suy tư thiển cận và hạn hẹp, với tấm ḷng thành mạnh dạn tỏ bày.

Mong các sỹ phu, chư vị chỉ giáo nhằm sáng tỏ sự đúng sai nhiều chiều của một vấn đề hệ trọng liên quan trực tiếp đến sự giàu nghèo của đất nước, đến bát cơm manh áo của mỗi người dân!

N.H
4.9.2010

http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/09...a-lang-phi.html
DanTriVN
10 nghịch lư của kinh tế Việt Nam

DƯƠNG NGỌC
00:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 6/9/2010

Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào ṿng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đă thoát đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ư nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), th́ kinh tế Việt Nam c̣n đứng trước nhiều nghịch lư, trong đó có 10 nghịch lư được xét trên các góc độ khác nhau.

Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí c̣n tụt hậu xa hơn.

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985 cao gấp gần 5,2 lần (b́nh quân thời kỳ 1986 - 2010 tăng 6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (b́nh quân thời kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá cao.

GDP b́nh quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái b́nh quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore 37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD, Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP b́nh quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước; bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50 nước và vùng lănh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng lănh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ “đứng yên” th́ cũng phải nhiều năm sau Việt Nam mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm c̣n tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ư. Một, thứ bậc về GDP b́nh quân đầu người của Việt Nam vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên của GDP b́nh quân đầu người của Việt Nam c̣n thấp như trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên 4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ tăng trung b́nh của thế giới th́ mới không bị tụt hậu xa hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980, th́ từ năm 1981 đă tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010 này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế c̣n thấp, về mặt xă hội c̣n nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường c̣n nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố tăng vốn (chiếm khoảng 52 - 53%); do sự đóng góp của yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 - 20%); c̣n yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học - công nghệ) mới chiếm 28 - 29%, thấp xa so với con số 35 - 40% của một số nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đă đến lúc, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, th́ ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng khó mà đạt được.

Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục với quy mô lớn.

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ư. Một, nhập siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách đây cũng đă khá lâu (năm 1992), c̣n có tới 24 năm nhập siêu. Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đă ở mức hai chữ số); tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để t́m thị trường tiêu thụ, nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập th́ càng nhập siêu. Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng trong khi sản xuất trong nước th́ bị cạnh tranh, giảm thị phần, c̣n người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn - đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc.

Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đă nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm.

“Bàn tay hữu h́nh” c̣n quá dài, trong khi “bàn tay vô h́nh” c̣n quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng, nhưng ph́nh to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành chính c̣n nặng nề. Chi phí bất hợp lư, thậm chí bất hợp pháp c̣n nhiều. Cạnh tranh chưa b́nh đẳng, “ra sân chơi chung, nhưng đă chấm trước người thắng kẻ thua”. Kinh tế thị trường nhưng độc quyền c̣n lớn.

Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đă trên 15 năm, nhưng tính gia công c̣n nặng. Do gia công nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

Sáu là, “tam nông” rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm tương xứng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đă giảm xuống nhưng hiện vẫn c̣n chiếm 70%; tam nông đă đóng góp tích cực trong việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xă hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 - 1998, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,... nhưng tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm - thủy sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xă hội giảm và hiện ở mức thấp (năm 2000 chiếm 13,8%, năm 2005 c̣n 7,5%, năm 2009 c̣n 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn c̣n lớn cả về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu bền... c̣n lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90% tổng số hộ nghèo của cả nước...

Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đă kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng hàng đầu thế giới), nhưng lăi suất vay vốn ở Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước và vùng lănh thổ. Thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư c̣n thấp do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và tiêu dùng th́ có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đă tăng khá nhanh (từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1% năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức 38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% th́ năm 2005 đă đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%). Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.

Chín là, khoa học - công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế c̣n thấp.

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. T́nh h́nh này do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009 đă tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư toàn xă hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế th́ thực hiện c̣n lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm h́nh thành và chậm phát triển.

Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng c̣n nhiều hạn chế, bất cập.

Nếu khoa học - công nghệ là động lực của phát triển, th́ giáo dục - đào tạo là ch́a khóa của khoa học - công nghệ. Giáo dục - đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục - đào tạo trong tổng chi ngân sách tăng. Ngành giáo dục - đào tạo liên tục cải cách, nhưng hiệu quả thấp...

http://vneconomy.vn/2010090612291548P0C992...te-viet-nam.htm
DanTriVN
31 tướng, đảng viên tố Nguyễn Tấn Dũng
Monday, September 06, 2010

HÀ NỘI (TH) - 31 cựu tướng lănh và đảng viên Cộng Sản lăo thành đă cùng kư tên tố cáo Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng là các người “trốn trách nhiệm” và “hạn chế dân chủ”. Đồng thời, tổng giám đốc đài truyền h́nh Việt Nam, Vũ Văn Hiến, bị một thuộc cấp tố cáo đích danh nhiều tội với các dẫn chứng cho thấy ông này “tham nhũng, cố ư làm trái, tư lợi, trả thù các người khiếu nại tố cáo”...

Những ngày cuối tháng 8 năm 2010, có tất cả 31 người trong đó có một số tướng lănh từng lên tiếng về các vấn đề thời sự sống c̣n của đất nước thời gian gần đây, đă đứng tên chung trong một đơn kiến nghị gửi “Bộ Chính Trị và các ủy viên trung ương đảng”.

Lá đơn cáo buộc ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng đang nhăm nhe cái ghế tổng bí thư đảng Cộng Sản, là người phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự sụp đổ của tập đoàn “quả đấm thép” Vinashin mà Phạm Thanh B́nh, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn “chỉ là người chịu trách nhiệm gián tiếp”.

“Trong khi không có tiền để xây một cái cầu nhỏ cho con em đồng bào dân tộc đi học, phải leo dây qua sông, nhiều lúc rớt xuống sông. Không xây thêm được một số trường mầm non công để đồng bào phải xếp hàng dài, chen chúc chạy thi nhau để xin một chỗ cho con... và c̣n bao nhiêu công việc bức thiết khác. Thủ tướng cơ cấu lại Vinashin để trốn tránh trách nhiệm”. Lá đơn gửi Bộ Chính Trị đề ngày 29 tháng 8 năm 2010 viết.

Ông Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng, không những bị qui tội đồng phạm với ông Dũng, lại c̣n bị cáo buộc là “có xu hướng áp đặt và hạn chế dân chủ” khi Quốc Hội thảo luận trước khi biểu quyết bác bỏ dự án đường sắt cao tốc.

Trong một diễn biến khác, văn pḥng luật sư V́ Dân do Luật Sư Trần Đ́nh Triển làm giám đốc đă chính thức nhận tư vấn pháp lư cho ông Trần Quốc Khánh, cán bộ đài truyền h́nh Việt Nam khiếu nại tố cáo đối với ông Vũ Văn Hiến, ủy viên trung ương đảng, đại biểu Quốc Hội, tổng giám đốc đài truyền h́nh Việt Nam v́ đă vi phạm nghiêm trọng pháp luật và điều lệ đảng Cộng Sản Việt Nam.


Phần đầu bản chụp lá đơn tố cáo ông Vũ Văn Hiến, tổng giám đốc đài truyền h́nh Việt Nam, gửi Bộ Chính Trị, Quốc Hội, chính phủ và một số cơ quan. (H́nh: Dân Luận)

Trong văn bản gửi lên nhiều cấp cao nhất nước, ngày 4 tháng 9 năm 2010, văn pḥng luật V́ Dân đă nêu ra những tội danh mà ông Vũ Văn Hiến đă cố t́nh vi phạm khi đang giữ chức vụ tổng giám đốc đài truyền h́nh Việt Nam bao gồm: cấu kết với Bộ Tài Chánh để chiếm đoạt ngân sách gần 1 tỷ hai trăm triệu từ tiền thuế VAT tại dự án “Nâng cấp thiết bị trung tâm đào tạo cán bộ phát thanh, truyền h́nh của đài THVN”.

Ông Vũ Văn Hiến c̣n có dấu hiệu tham nhũng trong việc sử dụng vốn ODA để mua máy móc thiết bị cũ và lạc hậu trong dự án nâng cấp trang thiết bị đài truyền h́nh Việt Nam, tổng số tiền thất thoát trong dự án này có thể hàng triệu Mỹ kim.

Ông Hiến c̣n bị cáo buộc tội đưa con gái ḿnh vào làm trưởng pḥng Văn hóa Thể thao của ban Thời Sự của đài truyền h́nh VTV1 khi bà này có tiền sử không tốt đẹp.

Trong bản cáo trạng, văn pḥng luật sư V́ Dân đă kể lại việc bà Kiều Trinh, con gái ông Vũ Văn Hiến khi tu nghiệp tại Thụy Điển đă bị cảnh sát nước này bắt quả tang đang ăn cắp hàng trị giá $400 USD trong siêu thị. Trên nguyên tắc th́ bị tội h́nh sự nhưng bà Kiều Trinh được ṭa đại sứ Việt Nam bảo lănh và trở về nước với lư lịch trắng tinh. Sự việc này đă gây chấn động trong giới kiều bào ở nước ngoài và rất nhiều hăng tin quốc tế đưa tin này.

Ông Vũ Văn Hiến đă sắp xếp cho bà Kiều Trinh làm trưởng ban Văn Hóa, đọc các bản tin, b́nh luận chính trị, phê phán đạo đức khi chính bản thân bà can tội ăn cắp. Việc này cho thấy ông Vũ Văn Hiến đă cấu kết gia đ́nh vào những vị trí cao của đài truyền h́nh Việt Nam và đồng thời đè bẹp tất cả những ai chống lại cách cai trị chuyên chế của ông.

Điển h́nh là mới đây, báo chí trong nước liên tục loan tin việc phó giám đốc đài truyền h́nh Việt Nam, Trần Đăng Tuấn, chính thức gửi đơn lên thủ tướng cùng nhiều cơ quan khác xin nghỉ việc. Lư do không được nói tới trong đơn nhưng đồng nghiệp của ông trong đài truyền h́nh Việt Nam đều biết ông này bị tổng giám đốc chèn ép.

Gần 6 năm trở lại đây, ông Trần Đăng Tuấn bị cô lập, vô hiệu hóa bởi ông Vũ Văn Hiến và phe nhóm của ông ta.

Trong thông báo mới đây của ủy ban kiểm tra trung ương đảng do ông Nguyễn Văn Chi, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư trung ương đảng, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương kư đă kết luận nhiều vụ việc cán bộ, viên chức, đảng viên ở đài truyền h́nh Việt Nam tố cáo, khiếu nại ông Vũ Văn Hiến là có cơ sở và đúng sự thật. Tuy nhiên với tài lo lót hầu cận nhóm cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Vũ Văn Hiến đă được họ bao che, dung túng.

Việc bao che này khiến ông Vũ Văn Hiến và phe cánh ngày càng lộng hành t́m mọi cách để loại bỏ ông Trần Đăng Tuấn và những người trung thực kiên tŕ đấu tranh vạch trần những sai trái của ông ta và phe cánh.

Việc ông Trần Quốc Khánh tố cáo đích danh Thủ Trưởng Vũ Văn Hiến là một chuyện hiếm thấy tại Việt Nam. Ông Hiến vừa là ủy viên trung ương đảng vừa là đại biểu Quốc Hội nên lay động được chiếc ghế của ông ta không phải là việc dễ dàng khi đằng sau ông ta có “những kẻ chống lưng” quyền hành nhất.

Luật Sư Trần Đ́nh Triển cũng là một nhân vật hiếm hoi, giống như Luật Sư Cù Huy Hà Vũ và Luật sS Trần Lâm, văn pḥng của ông Triển không ngại ngần ǵ khi phát đơn kiện các nhân vật tai to mặt lớn của Hà Nội.

Vụ kiện này đang làm xôn xao dư luận tại Hà Nội. Báo chí lăm le nhập cuộc v́ tính nghiêm trọng của nó. Kiện một ủy viên trung ương đảng kiêm đại biểu Quốc Hội không phải là chuyện nhỏ hay dễ nếu không được “ở trên” bật đèn xanh.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmvi...18566&z=157
This is a "lo-fi" version of our main content. To view the full version with more information, formatting and images, please click here.
Invision Power Board © 2001-2014 Invision Power Services, Inc.